|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 10- 2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,
Các Hội thẩm nhân dân.
- - Bà Lương Thị Hoàng Kim;
- - Bà Huỳnh Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Bà Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 204/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2023, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1999; địa chỉ nơi cư trú: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; SĐT: 0704.999.xxx.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990; địa chỉ nơi cư trú: ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; SĐT:0925,809,853.
Chị Nguyễn Thị Huỳnh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Thanh T vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày: Chị N và anh T qua thời gian tự quen biết nhau và chung sống với nhau từ năm 2018, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 02/5/2019 theo giấy chứng nhận kết hôn số 58/2019; vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau, dẫn đến gia đình không hạnh phúc, vợ chồng chúng tôi đã không sống với nhau khoảng 02 năm nay, nay nhận thấy tình cảm không còn, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị N và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thảo Như Ý, sinh ngày 10/10/2019; Hiện đang sống với chị N, chị N yêu cầu nuôi dạy con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Chị N và T trong thời gian chung sống không có tài sản chung và nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành, do anh Nguyễn Thanh T vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên còn để án quá thời hạn chuẩn bị xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Huỳnh N với anh Nguyễn Thanh T.
Về con chung: Để con chung Nguyễn Huỳnh Thảo Như Ý, sinh ngày 10/10/2019 cho chị N nuôi dạy, không xem xét về việc cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn cư trú trên địa bàn thị xã T. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Thanh T sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 02/5/2019 theo giấy chứng nhận kết hôn số 58/2019, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hiện tại chị N và anh T đã không sống chung với nhau từ nhiều năm nay và đã có xác minh tại ấp A, xã A, thị xã T; Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa chị N và anh T không hạnh phúc, kéo dài sẽ gây đau khổ cho nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Huỳnh N với anh Nguyễn Thanh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Thanh T trong thời kỳ hôn nhân có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thảo Như Ý, sinh ngày 10/10/2019; Hiện đang sống với chị N; Chị N yêu cầu nuôi dạy con chung, nên chấp nhận yêu cầu nuôi dạy con chung vủa chị N; không xem xét về cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
[2.3] Chị Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 300,000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N, chị Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T;
- Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2019, ngày 04/3/2004 của Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực thi hành.
- Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được tiếp tục nuôi dạy cháu Nguyễn Huỳnh Thảo Như Ý, sinh ngày 10/10/2019.
- Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Thanh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0009200 ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên; Chị N đã nộp đủ án phí.
- Anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 121/2023/HNGĐ-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 121/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu ly hôn (có đăng ký kết hôn)
