Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày: 27/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Ma Quốc Thể.
  • 2. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2024/TLST-HS, ngày 09/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Công N, sinh ngày 16/6/1973 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Công G (đã chết), con bà Đinh Thị T, sinh năm 1949; vợ: Đoàn Thị P, sinh năm 1979 (đã ly hôn), con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1999; Gia đình có 04 anh em: Bị cáo là con thứ 02; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 36 ngày 28/6/2010, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 28/9/2015, N chấp hành hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

2. Ôn Văn Đ, sinh ngày 13/3/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ôn Văn C (sinh năm 1971), con bà Trần Thị S (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1991 (đã ly hôn), con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình có 02 anh em: Bị cáo là con thứ nhất;

1

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 08/6/2024, Trần Công N, là người sử dụng ma túy, đi xe khách đến khu vực phường P, thành phố T, mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán cho người khác hưởng lợi nhuận. N gặp và mua của người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy với số tiền 2.000.000đ. Nguyên cất giấu gói ma túy trên người rồi đi xe khách về nhà. Sau đó N chia gói ma túy vừa mua được thành 24 gói nhỏ cất giấu ở nhiều chỗ khác nhau trong phòng ngủ. Từ ngày 08/6/2024 đến ngày 12/6/2024, N đã sử dụng hết 5 gói ma túy.

Khoảng 19 giờ ngày 12/6/2024, Ôn Văn Đ gọi điện thoại từ số 0343.591.xxx của Đ đến số điện thoại 0982.408.xxx của N hỏi mua 400.000đ ma túy để sử dụng. N đồng ý và hẹn địa điểm mua bán tại cổng nhà N, khi Đ đến N đưa cho Đ 03 gói ma túy, bên ngoài được gói bằng giấy có dòng kẻ và nhận số tiền 400.000đ. Đ đi về đến đoạn đường thuộc thôn T, xã K, huyện S thì gặp Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện S làm nhiệm vụ phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ của Ôn Văn Đ 03 gói bên ngoài được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng.

Hồi 20 giờ 05 phút ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Trần Công N, thu giữ 01 gói bên ngoài gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng tại túi quần bên phải đang mặc; 04 gói bên ngoài được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng tại túi quần được treo trên tường trong phòng ngủ; 11 gói (trong đó có 04 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, 03 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng; 04 gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ), bên trong đều chứa chất bột màu trắng trên mặt tủ quần áo trong phòng ngủ. Nguyên khai nhận số ma tuý trên là của N, N tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể Trần Công NÔn Văn Đ, kết quả (+) dương tính với ma túy.

Kết luận giám định số 819/KL - KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Mẫu vật gửi giám định (thu giữ của Ôn Văn Đ) là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D; khối lượng 0,226 gam (không phẩy hai hai sáu gam).

Kết luận giám định số 820/KL - KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Mẫu vật gửi giám định (thu giữ của Trần Công N) là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D; khối lượng 2,216 gam (Hai phảy hai một sáu gam).

2

Tại Cáo trạng số 120/CT-VKSSD, ngày 06/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Ôn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với cacsc bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Trần Công N phạm hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ôn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Công N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (12/6/2024).

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Ôn Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (12/6/2024).

Do các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Công N giám định ngày 13/6/2024"; 01phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Ôn Văn Đ giám định ngày 13/6/2024";

+ Tịch thu của bị cáo Ôn Văn Đ 01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng, bên trong lắp sim 0343.591.888; bị cáo Trần Công N 01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim 0982.408.630 để sung quỹ nhà nước;

+ Trả lại cho bị cáo Trần Công N số tiền 4.050.000₫ nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

+ Tịch thu của bị cáo Trần Công N 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

3

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

* Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Công N: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 12/6/2024, tại nơi ở của Trần Công N (thôn B, xã K, huyện S). N đã có hành vi bán trái phép 03 gói ma túy, loại heroine cho Ôn Văn Đ với số tiền 400.000đ.

Hồi 20 giờ 05 phút ngày 12/6/2024 Trần Công N còn có hành vi tàng trữ 2,216 gam chất ma túy, loại heroine tại nơi ở của mình, mục đích để sử dụng cho bản thân.

* Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Ôn Văn Đ: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực thôn T, xã K, huyện S. Ôn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 0,226 gam chất ma túy, loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Ôn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Là nguyên nhân dẫn tới các tội phạm khác và gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình các bị cáo, tăng hiểm họa lây nhiễm HIV. Bản thân bị cáo N có nhân thân xấu, đã bị xét xử 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học cải tạo mình mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

4

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra bị cáo Trần Công N có mẹ đẻ là bà vĐinh Thị T1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, đây là tình tết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo đề là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Công N giám định ngày 13/6/2024”; 01phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Ôn Văn Đ giám định ngày 13/6/2024”. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng, bên trong lắp sim 0343.591.888 thu giữ của bị cáo Ôn Văn Đ là phương tiện bị cáo sử dụng hàng ngày nên trả lại cho bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án;

01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim 0982.408.630 thu giữ của Trần Công N. Hội đồng xét xử xét thấy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Số tiền 4.450.000đ thu giữ của Trần Công N (trong đó 4.050.000đ là tiền của gia đình bị cáo, 400.000₫ là tiền bán ma túy cho Đ). Xét thấy 4.050.000đ là tiền của gia đình bị cáo không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

Số tiền bị cáo N bán ma túy cho Đ được 400.000đ là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo N tại khu vực phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Công NÔn Văn Đ, Công an huyện S đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục

5

quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 249; Điều 251; Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Công N phạm hai tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Ôn Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Công N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 02 (hai ) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (12/6/2024).

- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ôn Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (12/6/2024).

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận thối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Công N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Công N giám định ngày 13/6/2024”; 01phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận thối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham

6

gia niêm phong và Ôn Văn Đ, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Ôn Văn Đ giám định ngày 13/6/2024”;

- Tịch thu của bị cáo Trần Công N 01 điện toại loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong lắp sim 0982.408.630, máy cũ đã qua sử dụng để sung quỹ nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Ôn Văn Đ 01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng, bên trong lắp sim 0343.591.888, máy cũ đã qua sử dụng. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

- Trả lại cho bị cáo Trần Công N số tiền 4.050.000đ (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

- Tịch thu của bị cáo Trần Công N 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

7

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Quang - Ma Quốc Thể

Hoàng Thị Minh Khánh

8

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Kháng Nhật, Hợp Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Công N: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 12/6/2024, tại nơi ở của Trần Công N (thôn B, xã K, huyện S). N đã có hành vi bán trái phép 03 gói ma túy, loại heroine cho Ôn Văn Đ với số tiền 400.000đ. Hồi 20 giờ 05 phút ngày 12/6/2024 Trần Công N còn có hành vi tàng trữ 2,216 gam chất ma túy, loại heroine tại nơi ở của mình, mục đích để sử dụng cho bản thân. * Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Ôn Văn Đ: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực thôn T, xã K, huyện S. Ôn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 0,226 gam chất ma túy, loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger