|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2024/HSST Ngày 27 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.
Thẩm phán: Bà Đinh Thị Mai Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Hồng Sơn,
- - Bà Vi Thị Bình,
- - Ông Phạm Minh Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: - Ông Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Cầm Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh S, xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024; đối với các bị cáo:
- Giàng Thị S;
- Tráng A H;
- Giàng A N;
tên gọi khác: Không; sinh năm 1989, tại huyện B, tỉnh Sơn La; ĐKHKTT: Bản S, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; tạm trú: Bản Ông L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Giàng A D (đã chết) và con bà Sồng Thị D1; có bố dượng là ông Giàng A C; bị cáo có chồng là Mùa A C1 (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012); chung sống như vợ chồng với Tráng A H (là bị cáo trong vụ án). Ngày 27/10/2023 Bệnh viện Đa khoa tỉnh S, khám chuyên khoa xác định Giàng Thị S có thai tương đương 09 tuần, đã sinh con ngày 03/5/2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, có mặt.
tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1992, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Bản S, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tráng A L1 và con bà Cứ Thị M1 (Đã chết); mẹ kế là Thào Thị D2; năm 2011 sống chung như vợ chồng với Giàng Thị M2 và có 1 con sinh năm 2015; năm 2019 sống chung như vợ chồng với Giàng Thị S (là bị cáo trong vụ án) và có 01 con sinh ngày 03/5/2024; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, có mặt.
tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1996, tại huyện M, tỉnh Sơn La; ĐKHKTT: Bản Ông L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A L2 và con bà Mùa Thị C2; bị cáo có vợ là Thào Thị P và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị S: Ông Lò Văn Đ, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S, có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Tráng A H: Ông Hoàng Trung T, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A N: Ông Tòng Văn M3 - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Giàng A C, sinh năm 1958, nơi cư trú: Bản Ông L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Anh Lý A K, địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 03 giờ, ngày 18/9/2023, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu L3, Bộ, phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại bản Suối Đon, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, bắt quả tang đối với Tráng A H và Giàng Thị S (cả hai) đều trú tại bản Suối Đon, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:
- - 03 túi ni lon bên trong chứa các viên nén màu hồng và 01 gói ni lon bên trong chứa chất bột màu trắng (H và S khai số ma túy trên là H1 và hồng phiến); 01 chiếc xe máy có nhãn hiệu SYM, có BKS: 26G1: 057.39 và 01 ĐTĐD.
Mở rộng điều tra ngày 18/9/2023 Đồn Biên phòng cửa khẩu L3, ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A N, trú tại bản Ông L, xã C, huyện M về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
Ngày 18/9/2023, Đồn Biên phòng cửa khẩu L3, thành lập Hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng, trích mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, vật chứng thu giữ của Giàng Thị S, Tráng A và Giàng A N.
- - 03 túi ni lon bên trong có 595 viên nén màu hồng, có khối lượng 62 gam, gồm có: Túi ni lon màu xanh thứ nhất bên trong có 201 viên nén màu hồng, có khối lượng 20,52 gam, trích lấy 05 viên có khối lượng 0,51 gam, ký hiệu G1 để giám định chất ma túy.
Túi ni lon màu xanh thứ hai bên trong có 195 viên nén màu hồng có khối lượng 20,38 gam trích lấy 05 viên có khối lượng 0,52 gam, ký hiệu G2 để giám định.
Túi ni lon thứ ba bên trong có 199 viên nén màu hồng, có khối lượng 21,10 gam, trích lấy 05 viên có khối lượng 0,53 gam, ký hiệu G3 để giám định.
- - 01 gói ni lon bên trong chứa chất bột nén màu trắng, có khối lượng 55,06 gam, trích lấy 2,38 gam có ký hiệu L1, để giám định chất ma túy.
Kết luận giám định số: 2216/KL ngày 19/9/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận:
- - Mẫu gửi giám định ký hiệu G1, G2, G3 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,56 gam.
- - Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định L1 là 2,38 gam.
- - Tổng khối lượng ma túy thu giữ 62 gam, loại Methamphetamine và 55,06 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra các bị cáo Giàng Thị S, Giàng A N và Tráng A H khai nhận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 17/9/2023, Giàng Thị S đang ở nhà tại bản S, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì có một người đàn ông không quen đến nhà, qua nói chuyện biết người đàn ông có ma túy bán, S đã mua 02 gói Heroine với giá 120.000 đồng, mua bán xong người đàn ông bỏ đi, còn S lấy ở mỗi gói ra một ít Heroine ra sử dụng, số ma túy còn lại S cất giấu ở trong nhà.
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/9/2023, Giàng Thị S và Tráng A thì có Giàng A N, trú tại bản Ông L, xã C, huyện M đến gặp S qua nói chuyện, N biết S có thể mua được ma túy ở khu vực biên giới, nên Nhà lấy 4.600.000 đồng đưa cho S nhờ mua H1 và hồng phiến để sử dụng và bán kiếm lời. S đồng ý và cầm số tiền của N đưa. Sau đó N hỏi mua Heroine của S để sử dụng, S đã bán cho N 02 gói Heroine đã mua trước đó (không rõ khối lượng) với giá 90.000 đồng, mua bán xong Nhà bỏ đi. Sau khi N ra về, S bàn với H, S hiện có 4.500.000 đồng góp cùng số tiền 4.600.000 đồng của N được tổng cộng số tiền 9.100.000 đồng rồi S rủ H đi mua ma túy. Khoảng 19 giờ Hờ điều khiển xe máy BKS 26G1 - 057.39 (xe của ông Giàng A C là bố của S) chở S đi lên khu vực biên giới thuộc khu vực bản C, xã C, huyện M tìm mua ma túy mang về để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 18/9/2023 thì đến nơi, S và H gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi không rõ tên, địa chỉ, S xuống xe máy nói chuyện biết người đàn ông có ma túy bán, S đưa cho người đàn ông 9.100.000 đồng để mua Heroine và hồng phiến, người đàn ông nhận tiền và bỏ đi, một lúc sau quay lại đưa cho S và H 01 túi ni lon màu đen, bên trong có 03 túi hồng phiến và 01 gói ni lon màu hồng bên trong chứa Heroine. Mua bán ma túy xong người đàn ông bỏ đi, còn S cầm số ma túy vừa mua được trên tay trái cùng H điều khiển xe máy đi theo đường cũ về nhà. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 18/9/2023 khi S và H đi đến khu vực bản S, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La, thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngày 18/9/2023 Đồn Biên Phòng cửa khẩu L3 ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A N về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số: 63/CT-VKS-P1 ngày 11/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Giàng Thị S và Tráng A H về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Giàng A N về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà:
- Các bị cáo Giàng Thị S, Giàng A N, Tráng A nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo; không khai báo gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Giàng Thị S, Tráng A, Giàng A N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, n, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng Thị S từ 19 đến 20 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tráng A H 18 đến 19 năm tù.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A N từ 16 đến 17 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định.
-Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị S: Nhất trí với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố. Bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý, am hiểu pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và khai ra đồng phạm tích cực giúp cơ quan điều tra trong qúa trình giải quyết vụ án, bị cáo phạm tội khi đang mang thai.
Đề nghị áp dụng điểm s, t, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A S1 từ 17 đến 18 năm tù, miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
-Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Tráng A H: Nhất trí với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị. Bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; hiểu biết pháp luật còn hạn chế bị cáo bị rủ rê lôi kéo tham gia với vai trò đồng phạm, sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với CQĐT trong việc phát hiện tội phạm khai ra đồng phạm, Luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 19 năm tù miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
- Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Giàng A N: Nhất trí với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu là dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, không biết chữ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã ăn năn hối cải thành khẩn khai rõ về hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật xét xử bị cáo xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt; Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
- Các bị cáo đều nhất trí với quan điểm của người bào chữa; không có ý kiến tranh luận bổ sung đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là đồng nhất, đã thể hiện: Ngày 17/9/2023 Giàng A N đưa cho Giàng Thị S số tiền 4.600.000 đồng để nhờ mua ma túy giúp với mục đích sử dụng và bán kiếm lời, sau đó Giàng Thị S và T1 A H cùng nhau bàn bạc và góp thêm 4.500.000 đồng, tổng là 9.100.000 đồng, ngày 18/9/2023 Giàng Thị S và Tráng A H đã mua được 62 gam Methamphetamine và 55,06 gam Heroine: Tổng hai chất là 117,06 gam về để bán và chia cho Giàng A N 20,38 gam Methamphetamine và 27,53 gam Heroine thì bị bắt quả tang tại bản S, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, thu giữ cùng vật chứng nêu trên. Ngày 18/9/2023 Đồn Biên Phòng cửa khẩu L3 ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A N về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh hiện trường. biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu trưng cầu giám định; kết luận giám định về chất ma túy đối với vật chứng thu giữ của các bị cáo, lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A N về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc khi bắt quả tang đối với các bị cáo; phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Giàng Thị S và Tráng A, đã thực hiện mua bán trái phép 62 gam Methamphetamine và 55,06 gam Heroine tổng hai chất là 117,06 gam. Hành vi của bị cáo Giàng Thị S và Tráng A H đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung: “Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Bị cáo Giàng A N đã có hành vi nhờ Giàng Thị S mua giúp 20,38 gam Methamphetamine và 27,53 gam, tổng hai chất ma túy là 47,91 gam nhằm mục đích về sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo Giàng A N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, với tình tiết định khung: “Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Giàng Thị S, Tráng A và Giàng A N về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo: Bị cáo Giàng Thị S là người trực tiếp rủ rê Tráng A cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời, và nhận tiền mua giúp Giàng A N 47,91 gam ma túy. Do đó, Giàng Thị S giữ vai trò chính trong vụ án, Tráng A H tham gia với vai trò đồng phạm, Giàng A N phải chịu trách nhiệm độc lập đối với số ma túy bị cáo nhờ S mua.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Giàng Thị S, Tráng A tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm khai ra đồng phạm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Giàng Thị S phạm tội trong thời gian mang thai là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Tráng A H tham gia với vai trò đồng phạm nên được áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, các bị cáo đều nhận thức rõ việc Nhà nước nghiêm cấm các hành vi liên quan đến ma túy, nhưng do hám lời đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có tài sản không có điều kiện thi hành án, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng liên quan: Đối với hành vi Giàng Thị S bán 02 gói Heroine cho Giàng A N, N đã sử dụng hết, quá trình điều tra không thu được ma túy, không xác định được khối lượng ma túy. Do vậy không đủ cơ sở quy kết lần mua bán này.
Nguồn gốc 62 gam Methamphetamine và 55,06 gam Heroine, các bị cáo Giàng Thị S và T1 A H khai mua của người dân tộc Mông Lào, không biết họ tên địa chỉ cụ thể. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh.
[7] Về xử lý vật chứng, đồ vật: Đối với số ma tuý còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định và các đồ vật khác không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động có nhãn hiệu ITEL thu giữ của Giàng Thị S, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo không sử dụng để liên lạc khi thực hiện tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM loại GALAXY, BKS: 26G1-05.739 thu giữ trong vụ án, ông Giàng A C khai nhận do xe bị hỏng nên ông đưa cho bị cáo S đi sửa, việc S sử dụng xe để vận chuyển trái phép chất ma túy ông và gia đình không ai biết, và không liên quan. Do đó trả lại cho ông Giàng A C.
[8] Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện trợ giúp pháp lý, do đó được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, t, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Giàng Thị S 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Tráng A H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Tráng A H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Giàng A N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Giàng A N 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng, đồ vật, tài sản: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 52,68 gam Heroine; 60,44 gam Methamphetamine (được niêm phong trong 01 (Một) chiếc phong bì còn nguyên niêm phong).
- 01 (Một) chiếc phong bì thư nguyên niêm phong, bên trong là "Test thử ma túy của Giàng Thị S".
- 01 (Một) chiếc phong bì thư nguyên niêm phong, bên trong là "Test thử ma túy của Tráng A H".
- 01 (Một) chiếc phong bì thư nguyên niêm phong, bên trong là "Test thử ma túy của Giàng A N".
2.2. Trả lại cho bị cáo Giàng Thị S: 01 (một) điện thoại di động (được đựng trong 01 (một) chiếc phong bì còn nguyên niêm phong)
2.3. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Giàng A C:
01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, loại GALAXY màu đỏ - đen bạc, biển kiểm soát 26G1 - 057.39, số khung: RLGSC10MHDH 022714, số máy: VMSACEH 022714, xe không có gương chiếu hậu, không có vỏ nắp hộp xích, không có chìa khóa, phần vỏ nhựa mặt nạ phía trước đầu xe và cánh yếm bên trái vỡ, xe đã qua sử dụng (Theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/9/2023 thì thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu SYM, loại GALAXY màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 26G1 - 057.39, số khung: MHDH 022714, số máy: VMSACEH 022714). Tại thời điểm giao, nhận không kiểm tra máy móc, thiết bị, bên trong và tình trạng hoạt động của xe; hai bên giao, nhận đã niêm phong một số vị trí (phần máy móc, thân xe, đầu xe)
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng Thị S, Tráng A, Giàng A N.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/5/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tòng Thị Hiền |
Bản án số 121/2024/HSST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 121/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma túy
