|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2023/HS-ST Ngày: 26 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Kiêm;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1979; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1953 và con bà Phạm Thị L, sinh năm 1952; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ ba; vợ là Trần Thị H, sinh năm 1982 và 04 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/10/2023 đến ngày 14/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Văn T, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Trần Thị P, sinh năm 1980; vắng mặt.
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1982; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút ngày 03/10/2023, Tổ công tác Công an huyện H kiểm tra hành chính tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D1; địa chỉ: xóm A, xã H, huyện H do Trần Thị H, sinh năm 1982; trú tại xóm A, xã H, huyện H làm giám đốc. Quá trình kiểm tra, chị H xuất trình 01 túi Clear bên trong có 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH một thành viên M, đăng ký lần đầu ngày 22/7/2021 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh N cấp, người đại diện theo pháp luật của Công ty là chị Trần Thị H và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 837803 mang tên Cao Văn T, sinh năm 1970, trú tại xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; 01 hợp đồng mua bán nhà đất đề ngày 23/12/2022, bên bán Cao Văn T, bên mua đề tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1979, trú tại xóm A, xã H, huyện H (là chồng chị H).
Qua đấu tranh xác định, do có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Văn D và cần tiền làm ăn buôn bán nên ngày 23/12/2022, anh Cao Văn T liên lạc vào số điện thoại 0368.387.xxx của D đặt vấn đề vay số tiền 60.000.000 đồng, D đồng ý và hẹn T đến nhà D ở xóm A, xã H để thỏa thuận vay tiền và yêu cầu phải có giấy tờ thế chấp. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T mang theo 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 837803 mang tên Cao Văn T đến nhà gặp D. D đồng ý cho T vay số tiền 60.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3000 đồng/01 triệu/01 ngày, với phương thức T viết giấy bán cho D thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 1.200.000.000 đồng và D đặt trước số tiền 60.000.000 đồng cho T bằng số tiền cần vay nhưng không ghi lãi suất, T đồng ý. D đưa cho T 01 giấy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất do D soạn sẵn từ trước để T điền thông tin, nội dung anh T đồng ý bán cho D thửa đất trên với giá 1.200.000.000 đồng, trong đó D đặt cọc trước cho anh T số tiền 60.000.000 đồng. Sau khi viết giấy, T nhận số tiền 60.000.000 đồng, còn D giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 837803 mang tên Cao Văn T, 01 bản hợp đồng trên. D và T thống nhất, vào ngày 23 dương lịch hàng tháng, T có trách nhiệm thanh toán số tiền lãi tương ứng là 5.400.000 đồng cho D, hình thức thanh toán bằng tiền mặt, khi nào T thanh toán đủ tiền gốc và lãi thì D sẽ trả cho T 02 loại giấy tờ trên. Vì biết T là hàng xóm của chị Trần Thị P, sinh năm 1980, trú tại xóm F, xã H, huyện H (là chị gái vợ của D) nên D yêu cầu T hàng tháng chuyển số tiền lãi cho chị P để chị P chuyển lại cho D, T đồng ý. D nhờ chị P hàng tháng lấy tiền từ T chuyển lại cho D, tuy nhiên D không trao đổi, bàn bạc gì về việc cho T vay tiền với lãi suất như trên nên chị P không biết và đồng ý. Từ ngày 23/12/2022 đến ngày 23/9/2023, anh T đã chuyển cho D số tiền lãi 09 tháng với tổng số tiền là 47.100.000 đồng, riêng tháng 09/2023 do T chưa có đủ tiền trả lãi nên xin nợ lại D số tiền 1.500.000 đồng. Đối với số tiền gốc đã vay của D thì T chưa trả cho D.
Như vậy, Nguyễn Văn D cho anh Cao Văn T vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 108%/năm vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 5,4 lần. Anh Cao Văn T đã trả tổng số tiền lãi là 47.100.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định là (60.000.000đ x 20%) : 12 tháng x 9 tháng = 9.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 47.100.000 đồng - 9.000.000 đồng = 38.100.000 đồng.
Ngày 05/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ra lệnh giữ, bắt người trong trường hợp khẩn đối với Nguyễn Văn D. Ngoài ra, quá trình kiểm tra ngày 03/10/2023, chị Trần Thị H là vợ bị cáo đã tự nguyện giao nộp 06 túi Clear bao gồm:
- 01 túi Clear bên trong có 01giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 07J00600048 mang tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1979 do Phòng đăng ký kinh doanh Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/11/2011 là giấy tờ hợp pháp của Nguyễn Văn D.
- 01 túi Clear bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 237981 mang tên Đoàn Văn N do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 19/12/1997; 01 sơ đồ thửa đất bản phô tô mang tên Đoàn Văn N; 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 03/7/2023, bên đặt cọc Nguyễn Văn D, Trần Thị H, bên nhận cọc Đoàn Văn N, sinh năm 1966, trú tại xóm T, xã H, huyện H; 01 căn cước công dân bản photo tên Đoàn Văn N; 01 căn cước công dân bản photo tên Trần Thị G, sinh năm 1968, trú tại xóm T, xã H. Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 03/7/2023, do có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, bà G vay của Nguyễn Văn D số tiền 50.000.000 đồng để phục vụ làm ăn, hai bên tự thoả thuận bằng miệng với nhau tính lãi suất là 1.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày (tương đương 36%/năm). Bà G có viết 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất cho Nguyễn Văn D và để lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 căn cước công dân bản photo mang tên Đoàn Văn N; 01 căn cước công dân bản photo tên Trần Thị G. Từ ngày 03/7/2023 đến ngày 03/10/2023, bà G đã trả cho Nguyễn Văn D 03 tháng tiền lãi với tổng số tiền 4.500.000 đồng và số tiền gốc 50.000.000 đồng. Lãi suất D cho vay cao hơn gấp 4 lần so với mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự quy định, số tiền lãi bất hợp pháp là 4.500.000 đồng - (50.000.000 đồng x 20% : 12 tháng x 3 tháng) = 2.000.000 đồng.
- 01 túi Clear bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P394530 mang tên Nguyễn Văn V do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 01/10/2000; 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 07/3/2023, bên đặt cọc Nguyễn Văn D, sinh năm 1979, Trần Thị H, sinh năm 1982, cùng trú tại xóm A, xã H, huyện H, bên nhận cọc Nguyễn Văn V, sinh năm 1962, trú tại xóm H, xã H, huyện H. Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 07/3/2023, do có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, ông V vay của Nguyễn Văn D số tiền 25.000.000 đồng để phục vụ làm ăn, hai bên tự thoả thuận bằng miệng với nhau tính lãi suất là 1.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Ông V có viết 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất cho Nguyễn Văn D và để lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến nay ông V chưa trả cho Nguyễn Văn D bất kỳ số tiền gốc và tiền lãi nào.
- 01 túi Clear bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK557284 mang tên Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958, trú tại Thôn H, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 02/8/2007. Quá trình điều tra xác định: Bà H1 trước đây sinh sống tại xã H, huyện H. Vào khoảng đầu tháng 8/2023, thông qua mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, do có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất, bà H1 đến gặp Nguyễn Văn D để nhờ D tư vấn làm thủ tục nên đưa 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho D giữ để tư vấn và làm thủ tục hồ sơ về đất. Ngoài ra, hai bên không giao dịch hay thỏa thuận nội dung gì khác. Sau đó, do có công việc trở về tỉnh Đắk Lắk nên bà H1 chưa đến gặp D để nhận lại giấy chứng nhận trên.
- 01 túi Clear bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 610828 mang tên Trần Văn T1, sinh năm 1978 và Phan Thị K, sinh năm 1981, trú tại xóm B, xã H, huyện H do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/06/2017. Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng đầu tháng 9/2023, do có nhu cầu chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất, anh T1 đến gặp Nguyễn Văn D để nhờ D tư vấn làm các thủ tục nên T1 đưa 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho D giữ để tư vấn và làm thủ tục hồ sơ về đất. Ngoài ra, hai bên không giao dịch hay thỏa thuận nội dung gì.
- 01 túi Clear bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L256833 mang tên Vũ Văn Đ, sinh năm 1963 trú tại xóm A, xã H, huyện H do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/05/1997. Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng giữa tháng 9/2023, do có nhu cầu chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất, ông Đ đến gặp Nguyễn Văn D để nhờ D tư vấn làm các thủ tục nên ông Đ đưa 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho D giữ để tư vấn và làm thủ tục hồ sơ đất. Ngoài ra, hai bên không giao dịch hay thỏa thuận nội dung gì khác.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại các giấy tờ không liên quan đến việc phạm tội cho các chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, chị Trần Thị H là vợ bị cáo Nguyễn Văn D đã tự nguyện giao nộp số tiền 40.100.000 đồng, trong đó có 38.100.000 đồng là tiền chiếm hưởng bất hợp pháp do D cho anh Cao Văn T vay tiền và 2.000.000 đồng tiền chiếm hưởng bất hợp pháp cho vợ chồng ông Đoàn Văn N, bà Trần Thị G vay tiền. Cơ quan điều tra đã yêu cầu anh Cao Văn T giao nộp số tiền 60.000.000 đồng vay của Nguyễn Văn D để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn anh T chưa có tiền để giao nộp.
Tại bản Cáo trạng số: 125/CT-VKS-HH ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn D từ 55.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp lại số tiền lãi hợp pháp 9.000.000 đồng đã thu của anh Cao Văn T để tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Buộc anh Cao Văn T phải nộp số tiền gốc đã vay 60.000.000 đồng nhưng chưa thanh toán cho Nguyễn Văn D. Trả cho anh Cao Văn T số tiền 38.100.000 đồng do Nguyễn Văn D thu lãi bất hợp pháp. Sau khi đối trừ số tiền trên, truy thu của anh Cao Văn T số tiền 21.900.000 đồng đẻ sung ngân sách nhà nước.
Trả cho anh Cao Văn T 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 837803 mang tên Cao Văn T
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo Nguyễn Văn D thu lãi bất hợp pháp của ông Đoàn Văn N, bà Trần Thị G nhưng ông N, bà G không yêu cầu nhận lại.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên; thừa nhận lỗi lầm của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 09/2023 tại nhà ở của Nguyễn Văn D tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; D đã cho anh Cao Văn T vay số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) với lãi suất là 3.000đồng/01 triệu đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 108%/năm), cao gấp 5,4 lần so với mức lãi suất cho vay cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, thu lời bất chính số tiền 38.100.000₫ (Ba mươi tám triệu một trăm nghìn đồng).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 201. Tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Bộ luật Hình sự năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”".
[3] Xét hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, ảnh hưởng trật tự, trị an của xã hội. Hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó bị cáo phải bị xử lý theo quy định pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền lãi chiếm hưởng bất hợp pháp để khắc phục hậu quả; ngoài ra bị cáo có bố đẻ là người có công với nước được tặng thưởng Bằng khen vì đã có thành tích trong kháng chiến, mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, phạm tội vì động cơ vụ lợi, thu lợi bất chính khi cho vay với lãi suất cao nhưng không có tính chất chuyên nghiệp. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục; tạo điều kiện cho bị cáo sớm sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, tu dưỡng thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Số tiền gốc 60.000.000 đồng do bị cáo cho anh Cao Văn T vay, đây là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Do anh Cao Văn T chưa trả số tiền gốc này cho bị cáo nên cần buộc anh T phải nộp lại để tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Số tiền lãi 9.000.000 đồng do bị cáo thu được từ người vay anh Cao Văn T tương ứng với mức lãi suất 20% theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hiện bị cáo chưa giao nộp số tiền lãi này. Đây là khoản tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 40.100.000 đồng do gia đình bị cáo đã giao nộp trong quá trình điều tra, trong đó có 38.100.000 đồng là tiền lãi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép (trên 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự). Đây là khoản tiền thu lợi bất chính của bị cáo đối với người vay nên cần trả lại số tiền này cho anh Cao Văn T. Còn lại số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo thu lãi bất hợp pháp của ông Đoàn Văn N, bà Trần Thị G nhưng do ông N, bà G không yêu cầu nhận lại số tiền trên nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 837803 mang tên Cao Văn T là tài sản hợp pháp của anh Cao Văn T nên cần trả lại cho anh T.
Đối với các tài sản khác cơ quan điều tra đã thu giữ khi khám nhà bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trả lại gia đình bị cáo quản lý sử dụng là phù hợp pháp luật nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Phạt tiền Nguyễn Văn D 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn D theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 111/LCCT-TA ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc anh Cao Văn T phải nộp lại số tiền gốc vay nhưng chưa thanh toán cho Nguyễn Văn D là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
Trả cho anh Cao Văn T số tiền 38.100.000 đồng do Nguyễn Văn D thu lợi bất chính và 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 837803 mang tên Cao Văn T.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền lãi chiếm hưởng bất hợp pháp do Nguyễn Văn D thu của ông Đoàn Văn N, bà Trần Thị G là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
Truy thu của Nguyễn Văn D số tiền 9.000.000₫ (Chín triệu đồng) đã thu lãi của anh Cao Văn T để sung Ngân sách nhà nước.
(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao vật chứng ngày 14/12/2023 và Biên lai thu tiền số 0001955 ngày 14/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc Nguyễn Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Trung Kiên |
Bản án số 121/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury)
- Số bản án: 121/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
