|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 26–07 – 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Hoàng Mai
- Ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 258/2024/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 392/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 11/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 394/2024/QÐST – HNGĐ ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1989
Địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ hiện nay: ấp L, xã T, huyện V, Thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, có mặt bà Nguyễn Thị P1; ông Lê Hoàng T vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Hoàng T được gia đình mai mối và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã M ngày 30/5/2011. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại nhà của cha mẹ chồng ở tổ A, ấp M, xã M. Quá trình chung sống, bà và ông T hạnh phúc được 05 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T không quan tâm đến vợ con, không quan tâm đến kinh tế gia đình, ham mê cờ bạc gây nợ, nhậu nhẹt. Khi có rượu vào, ông T mắng chửi vợ con. Cha mẹ chồng thường xuyên la rầy góp ý cho ông T nhưng ông không thay đổi. Đến khoảng tháng 4 năm 2022, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, bản thân bà nhận thấy không thể tiếp tục sống chung nên bà có xin phép cha mẹ chồng về nhà cha mẹ ruột ở cho tới nay. Từ khi bà về nhà cha mẹ ruột ở đến nay, ông T có đến thăm con và có năn nỉ để hàn gắn. Tuy nhiên, do bản thân bà không còn niền tin, tình cảm đối với ông T nên bà không đồng ý. Nay, thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 01 (một) con chung tên Lê Tường L, sinh ngày 13/5/2011, bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu ông Trung cấp d nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Do quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P. Về con chung, nhận thấy, cháu L đang được bà P nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định tâm lý cho cháu, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà P. Do bà P không yêu cầu cấp dưỡng và ông T không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị P và ông Lê Hoàng T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại xã M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[2] Xét thấy, qua kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 20/5/2024 thể hiện, ông T đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ thuộc ấp M, xã M và vẫn còn sinh sống ở địa phương. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định ông T có nơi cư trú hợp pháp tại địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông T tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía bà P không yêu cầu hoãn phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Hoàng T tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 96 ngày 30/5/2011 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Bà P cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do ông T không quan tâm đến vợ con, ham mê cờ bạc, nhậu nhẹt. Phía ông T được Tòa án nhiều lần triệu tập, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, ông T vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà P, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Như vậy, ông T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải, động viên, phân tích để bà P có thể rút yêu cầu khởi kiện vì con. Tuy nhiên, bà P vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, mâu thuẫn của bà P và ông T đã trầm trọng, hai bên không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy, mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà P được ly hôn ông T.
[6] Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 255 ngày 21/7/2011 của Ủy ban nhân dân xã M, đã đủ cơ sở để xác định bà P và ông T có 01 con chung chưa thành niên tên Lê Tường L sinh ngày 13/5/2011. Xét thấy, cháu L đang được bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà P.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà P không yêu cầu nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của ông T về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[9] Về án phí: Bà P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà P đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001940 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Lê Hoàng T.
- Về con chung: Ông, bà có 01 (một) con chung tên Lê Tường L sinh ngày 13/5/2011. Giao cháu L cho bà P được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Bà P cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà P không yêu cầu.
(Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà P đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001940 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 121/2024/HNGĐ – ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 121/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận y/c.
