TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2024/DS-ST Ngày: 25-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phan Văn Cường;
- Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 100/2024/DS-ST ngày 27/02/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á; trụ sở: số D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Lầu H, tòa nhà A C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh năm 1996; địa chỉ liên hệ: lầu H, Tòa nhà A, 444A-446 Cách mạng tháng 8, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 11/01/2024); (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Xuân T1, sinh năm 1980; địa chỉ: số D, đường B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Có mặt).
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1/ Công ty TNHH X; địa chỉ: số D đường B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Xuân T1, sinh năm 1980, là người đại diện theo pháp luật; (Có mặt).
2/ Bà Võ Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: số D đường B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 01 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt là Ngân hàng A) là bà Nguyễn Ngọc Bảo T trình bày:
Ngân hàng A cấp tín dụng cho ông Phan Xuân T1 căn cứ theo: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, chi tiết như sau: Số thẻ tín dụng: 9704 16xx xxxx 2293; ngày cấp: 28/11/2022; loại thẻ: A, hạn mức thẻ: 300.000.000 đồng; hiệu lực thẻ: Tháng 11/2025; lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Thực hiện theo Hợp đồng Ngân hàng A đã cấp cho ông T1 số tiền 300.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó ngày 20/11/2023 Ngân hàng A đã ra thông báo chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn đối với thẻ tín dụng trên. Trong quá trình sử dụng thẻ ông T1 mới chỉ thanh toán được cho Ngân hàng A số tiền 65.830.590 đồng. Dư nợ thẻ đến thời điểm hiện tại là 346.645.702 đồng, trong đó: Nợ gốc: 316.135.696 đồng, lãi quá hạn: 30.510.006 đồng.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Phan Xuân T1 và bà Võ Thị H đã thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1578, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Hợp đồng thế chấp số TDU.BĐCN.07.251122, được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 6406, quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/11/2022 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Bình Dương ngày 28/11/2022.
Ngoài ra, ngày 25/11/2022 Công ty TNHH X (sau đây là Công ty X) có ký Giấy cam kết cùng trả nợ. Theo đó, Công ty X T2 đồng ý cùng trả nợ với bên được cấp tín dụng là ông Phan Xuân T1. Khi bên được cấp tín dụng (ông T1) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A. Nghĩa vụ trả nợ bao gồm toàn bộ nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng với Ngân hàng A (bao gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả, phí, các khoản phải trả khác).
Do ông Phan Xuân T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng A khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Phan Xuân T1 thanh toán cho A tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 25/4/2024 là 346.645.702 đồng, trong đó: nợ gốc 316.135.696 đồng, lãi quá hạn 30.510.006 đồng.
- Buộc ông Phan Xuân T1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp ông Phan Xuân T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Á được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1578, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU456142, số vào số cấp GCN: CS16959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/10/2020, cập nhật lần cuối ngày 20/04/2022 cho ông Phan Xuân T1.
- Trường hợp ông Phan Xuân T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A thì Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ trên theo Giấy cam kết về việc trả nợ ký ngày 25/11/2022.
* Quá trình tố tụng bị đơn ông Phan Xuân T1 trình bày: Thống nhất với Ngân hàng A về việc ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022. Thực hiện theo hợp đồng ngân hàng A đã giải ngân cho ông T1 đủ số tiền vay. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn, nên ông T1 không thể thanh toán khoản nợ đúng hạn cho Ngân hàng A. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A thì ông T1 đồng ý. Tuy nhiên, ông T1 đề nghị Ngân hàng A cho ông T1 một khoảng thời gian để trả nợ, xóa và giải chấp quyền sử dụng đất hiện đang thế chấp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty X (sau đây gọi tắt là Công ty X) do ông Phan Xuân T1 đại diện trình bày: Ngày 25/11/2022 Công ty X có ký Giấy cam kết cùng trả nợ cho ông Phan Xuân T1 tại Ngân hàng A. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với ông Phan Xuân T1 thì Công ty X thống nhất không có ý kiến gì.
* Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H: Đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý; thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:
Quyền sử dụng đất diện tích 682,4 m² (60m² ODT và 622,4m² CLN) thuộc thửa đất số 1578, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU456142, số vào số cấp GCN: CS16959 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/10/2020, cập nhập biến động lần cuối ngày 20/04/2022, hiện trạng là đất trống.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H là đúng quy định.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Ngày 20/11/2022, Ngân hàng A cấp tín dụng cho ông Phan Xuân T1 căn cứ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, cụ thể: Số thẻ tín dụng: 9704 16xx xxxx 2293; ngày cấp: 28/11/2022; loại thẻ: A, hạn mức thẻ: 300.000.000 đồng; hiệu lực thẻ: Tháng 11/2025; lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Thực hiện theo hợp đồng tín dụng Ngân hàng A đã giải ngân cho ông T1 số tiền vay. Sau khi sử dụng thẻ tín dụng ông T1 mới chỉ thanh toán được cho Ngân hàng A số tiền 65.830.590 đồng. Dư nợ gốc thẻ tín dụng đến thời điểm hiện tại 346.645.702 đồng. Do ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông T1 phải thanh toán nợ vay. Bị đơn ông Phan Xuân T1 thống nhất với nguyên đơn về việc ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn, nên ông T1 không thể thanh toán khoản nợ đúng hạn cho Ngân hàng A. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A thì ông T1 đồng ý. Tuy nhiên, ông T1 đề nghị Ngân hàng A cho ông T1 một khoảng thời gian để ông T1 thanh toán nợ và giải chấp tài sản. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty X Thịnh thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Xét, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng A đã cấp thẻ tín dụng cho ông Phan Xuân T1 với hạn mức thẻ 300.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ, không thanh thoán nợ đầy đủ, đúng hạn, do đó khoản vay đã chuyển thành khoản nợ quá hạn từ ngày 20/11/2023. Tại phiên tòa bị đơn thống nhất số tiền còn nợ của nguyên đơn, do tình hình kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng cho bị đơn thời gian để thanh toán nợ, xóa thế chấp. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không đồng ý. Do, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng với thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng A. Vì vậy, Ngân hàng A yêu cầu ông T1 phải thanh toán nợ phát sinh theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022, tính đến ngày ngày 25/4/2024 là 346.645.702 đồng, trong đó: nợ gốc 316.135.696 đồng, lãi quá hạn 30.510.006 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[4] Hợp đồng thế chấp số TDU.BDCN.07.251122 được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 6406 quyển số 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/11/2022 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Bình Dương ngày 28/11/2022. Theo đó, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1578, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU456142, số vào số cấp GCN: CS16959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/10/2020, cập nhập biến động lần cuối ngày 20/04/2022 cho ông Phan Xuân T1. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ trên hiện trạng là đất trống. Quyền sử dụng đất trên là tài sản của ông Phan Xuân T1 và bà Võ Thị H. Theo đó, ông T1 và bà H đã sử dụng tài sản trên của mình để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng A. Xét, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật, tuân thủ quy định về hình thức và được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Do đó, trường hợp ông T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp.
[5] Ngày 25/11/2022 Công ty X ký kết với Ngân hàng A Giấy cam kết về việc trả nợ. Theo Giấy cam kết về việc trả nợ, Công ty X T2 đồng ý cùng trả nợ với bên được cấp tín dụng là ông Phan Xuân T1 khi bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng A. Nghĩa vụ trả nợ bao gồm toàn bộ nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng với Ngân hàng A (bao gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả, phí, các khoản phải trả khác). Xét, Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 25/11/2022 được ký kết giữa Ngân hàng A với Công ty X là hoàn tòan tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên buộc các bên phải thực hiện. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Công ty X có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A trong trường hợp ông Phan Xuân T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là phù hợp.
[6] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[7] Chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 5.000.000đ. Ngân hàng A đã tạm ứng. Ông Phan Xuân T1 phải chịu và có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng A.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Xuân T1 phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 280, 317, 318, 319, 323 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Phan Xuân T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Phan Xuân T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022 tính đến ngày 25/4/2024 là 346.645.702đ (ba trăm bốn mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ hai đồng), trong đó:
- Nợ gốc 316.135.696đ (ba trăm mười sáu triệu một trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi sáu đồng);
- Lãi quá hạn: 30.510.006đ (ba mươi triệu năm trăm mười nghìn không trăm lẻ sáu đồng);
Tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi ông Phan Xuân T1 trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 20/11/2022, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.
- Trường hợp ông Phan Xuân T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1578, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU456142, số vào số cấp GCN: CS16959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/10/2020, cập nhập biên động lần cuối ngày 20/04/2022 cho ông Phan Xuân T1.
- Trường hợp ông Phan Xuân T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á thì Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ trên theo Giấy cam kết cùng trả nợ ký ngày 25/11/2022.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Văn T3 phải chịu số tiền 17.332.285đ (mười bảy triệu ba trăm ba mươi hai nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Á 7.933.660đ (bảy triệu chín trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm sáu mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004421 ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Chi phí tố tụng khác: Ông Phan Xuân T1 phải phải trả cho Ngân hàng TMCP Á chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 121/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 121/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP A với ông Phan Xuân T
