Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn

Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 73/2024/HNGĐ-TLST ngày 21/02/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐ-ST ngày 09 tháng 04 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh ngày 28/3/1998.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đang lao động tại P.

    Người được chị L ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1973 ; Địa chỉ : Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.

  2. Bị đơn: Anh Vũ Phương N1, sinh ngày 12/02/1998.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đang lao động tại P.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1966.

    Địa chỉ : Thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.

(Chị L, anh N1, bà H đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N1 tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 24/5/2019. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được 3 năm. Đến năm 2022 chị và anh N1 đều sang Philippin lao động, vợ chồng mỗi người ở một nơi nên cả hai thiếu sự chia sẻ, quan tâm đến nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, mâu thuẫn trở lên trầm trọng. Ngày 06 tháng 02 năm 2024 chị về Việt Nam, trước đó chị có trao đổi nội dung ly hôn, anh N1 cũng nhất trí nhưng anh N1 không xin được giấy tờ hợp pháp để gửi về Tòa án. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N1.

Về quan hệ con chung: Chị và anh N1 có 01 con chung là Vũ Gia K, sinh ngày 18/12/2019. Trong thời gian chị và anh N1 đi nước ngoài, có gửi con cho ông bà nội, ngoại hai bên nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị và anh N1 thỏa thuận anh N1 sẽ nuôi cháu K. Trong thời gian anh N1 không ở Việt Nam chị đồng ý ủy quyền cho bà Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh N1 không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Anh Vũ Phương N1 hiện nay đang lao động tại P, do chị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh N1 nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh N1 thông qua gia đình. Bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của anh N1 xác định, năm 2022 chị L và anh N1 đều sang P lao động, từ khi đi anh N1 về Việt Nam một lần. Trong thời gian anh N1, chị L ở nước ngoài đã xảy ra mâu thuẫn. Địa chỉ của anh N1 ở nước ngoài bà không biết, nhưng anh N1 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà H đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh N1 biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh N1 đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng anh có xảy ra mâu thuẫn, nay chị L có đơn ly hôn, anh đồng ý. Về con chung anh có nguyện vọng được nuôi cháu Vũ Gia K, sinh ngày 18/12/2019, về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh ủy quyền cho mẹ đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án và chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K giúp anh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh N1, bà đồng ý nhận ủy quyền của anh N1 về việc chăm sóc cháu Vũ Gia K trong thời gian anh N1 không ở Việt Nam. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Sau khi nộp đơn ly hôn, ngày 25/02/2024 chị L quay lại P lao động và ủy quyền cho bố đẻ là ông Phạm Văn N giao nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án, ông N đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh N1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị L được ly hôn anh N1. Về con chung: Giao con chung Vũ Gia K, sinh ngày 18/12/2019 cho anh Vũ Phương N1 nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N1 không ở Việt Nam, tạm giao cháu K cho bà Vũ Thị H chăm sóc. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị L và anh Vũ Phương N1 đều có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện nay chị L, anh N1 đều đang lao động tại P. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Anh Vũ Phương N1 ủy quyền cho bà Vũ Thị H chăm sóc cháu K trong thời gian anh không ở Việt Nam nên Tòa án xác định bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Chị L, anh N1, bà H đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Vũ Phương N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 24/5/2019, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù chị L, anh N1 đều ở P nhưng cả hai không quan tâm, liên lạc với nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh N1. Quá trình giải quyết vụ án, anh N1 cũng có quan điểm xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh N1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

- Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Vũ Phương N1 có một con chung là Vũ Gia K, sinh ngày 18/12/2019. Ly hôn anh N1 có nguyện vọng được nuôi con, chị L đồng ý. Xét thấy, hiện tại chị L và anh N1 đều đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu K được ông bà nội, ngoại hai bên chăm sóc, học tập và phát triển tốt. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của cháu K cũng như thỏa thuận của các đương sự, tiếp tục giao cháu K cho anh N1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N1 không ở Việt Nam, tạm giao cháu K cho bà Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Vũ Phương N1.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Vũ Gia K, sinh ngày 18/12/2019 cho anh V Phương Nam chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh N1 không ở Việt Nam, tạm giao cháu K cho bà Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con do các bên tự thỏa thuận.

    Chị Phạm Thị L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000472 ngày 21 tháng 02 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị L và anh Vũ Phương N1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Bà Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã An Thanh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger