Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HSST

Ngày: 24/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

*Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Minh

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

*Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/TLST-HS, ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1.Đinh Quang L, sinh năm 2001 tại thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: thôn B, xã K, huyện G, TP Hà Nội. Nơi ở hiện tại: thôn B, xã K, huyện G, TP Hà Nội. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đinh Văn T, sinh năm 1973; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; Vợ: Đinh Thị Thu T2, sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 07/6/2023; Tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/6/2023; Tạm giam từ ngày 17/6/2023 đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Quang L: Luật sư Đỗ Văn N - Công ty L3 - Đoàn luật sư thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa).

2.Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1995 tại thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: thôn M, xã B, huyện T, TP Hà Nội; Nơi ở hiện tại: thôn M, xã B, huyện T, TP Hà Nội Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là đảng viên chi bộ Đại đội 1, Đảng bộ bộ phận Tiểu đoàn 3, Đảng bộ Trung đoàn cảnh sát cơ động.

Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công an; Con ông: Nguyễn Kiêm H1, sinh năm 1963; Con bà: Tào Thị My H2, sinh năm 1971; Vợ: Phan Thị H3, sinh năm 1995; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 07/6/2023; Tạm giữ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 17/6/2023; Tạm giam từ ngày 17/6/2023 đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

3. Nguyễn Trường S, sinh năm 1993 tại thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: thôn X, xã H, huyện M, TP Hà Nội. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1971; Con bà: Đào Thị N1, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994, có 03 con, một con sinh năm 2015, một con sinh năm 2016, một con sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Tại quyết định số 49/QĐ-XPHC ngày 18/4/2022 Công an huyện Q xử phạt Nguyễn Trường S 2.500.000₫ về hành vi “cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã nộp phạt ngày 25/4/2022.

Bị cáo đầu thú ngày 15/12/2023, Tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 18/12/2023, Tạm giam từ 18/12/2023 đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994, HKTT: Đội 9, G, xã H, huyện M, TP Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976, HKTT: xã K, huyện G, TP Hà Nội (có mặt).
  3. Anh Nguyễn Sỹ C1, sinh năm 1999, HKTT: tổ I, phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt).
  4. Anh Nguyễn Khắc P, sinh năm 2002. HKTT: thôn C, xã M, huyện Ứ, TP Hà Nội (có mặt).
  5. Anh Nguyễn Đức N2, sinh năm 2002. HKTT: thôn P, xã C, huyện T, TP Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Khắc P ngồi uống rượu đám cưới tại khách sạn C2, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Đinh Quang L rủ mọi người đi hát và sử dụng ma túy. Tất cả đồng ý. Đinh Quang L đưa cho Nguyễn Hoàng H 4.000.000 đồng (gồm 2.000.000 đồng chuyển khoản và 2.000.000 đồng tiền mặt)

để H đi mua ma túy. H điều khiển xe máy của Đinh Quang L đi mua ma túy. Huyên liên hệ với Nguyễn Trường S hỏi mua ma túy. Hai bên thống nhất 3 chỉ và 1 viên ma túy (là ma túy tổng hợp dạng kẹo và ma túy Ketamine) giá 3.900.000đ. Sau khi H chuyển khoản tiền mua ma túy cho S. S đi mua ma túy của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực cầu H với giá 3.300.000 đồng để bán cho H. Huyên liên hệ đặt phòng hát tại quán K ở tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội và mang ma túy đến phòng hát. L, H, P, C1, N2 đến phòng hát và sử dụng ma túy. Tại phòng hát, có các nhân viên nữ phục vụ quán hát vào rót bia là Bùi Thị H4, Hạng Thị L2, Mồ Thị V, Nguyễn Thị Mỹ H5. Huyên đồng ý cho các nhân viên nữ sử dụng ma túy ketamine. H5, L2, V cùng sử dụng ma túy. H4 không sử dụng ma túy và không biết về việc nhóm thanh niên sử dụng ma túy. H4 ngồi hát 20 phút thì bị yêu cầu ra ngoài nên đi về. Cả nhóm sử dụng hết ma túy, các nhân viên nữ ra về trước. L, H, P, C1, N2 tiếp tục ngồi hát. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L, H, P, C1, N2 bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H phối hợp cùng Công an phường D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngày 15/12/2023, Nguyễn Trường S đầu thú tại Cơ quan công an quận H.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 25cm có bám dính tinh thể màu trắng trên bề mặt.
  • + 01 thẻ điện thoại Mobilefone màu xanh có bám dính tinh thể màu trắng
  • + 01 ống hút quấn bằng tờ tiền mệnh giá10.000 VNĐ có bám dính tinh thể màu trắng.
  • + 01 túi nilong kích thước (1,5x2,5)cm có bám dính tinh thể màu trắng.
  • + 01 túi nilong kích thước (2,5x3)cm có bám dính tinh thể màu trắng.
  • +01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, lắp sim số 0333.690.xxx (thu giữ của Nguyễn Hoàng H).
  • +01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro Max màu xanh, lắp sim số 0962712001 (thu giữ của Đinh Quang L).
  • + 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen, BKS: 29N1-808.66, số khung: 3910KY410381, số máy: JA39E1279954.

Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Trường S khai nhận thống nhất như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Khắc P ngồi uống rượu đám cưới tại khách sạn C2, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Lúc này, L rủ mọi người đi hát karaoke và sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý. Sau đó, L và H đi ra khỏi bàn uống rượu. Khi cách bàn uống rượu khoảng 10 mét, L bảo H đi mua ma túy và đưa cho H 4.000.000₫ bao gồm: tiền mặt 2.000.000 đồng và chuyển khoản

2.000.000 đồng (L chuyển khoản 2.000.000₫ từ tài khoản số 19035133962017 mang tên Đinh Quang L của Ngân hàng TMCP K1 (T4) đến tài khoản số 1021064581 mang tên Nguyễn Hoàng H của Ngân hàng TMCP N3 (V2), mục đích mua ma túy để cả nhóm cùng sử dụng. L tự bỏ số tiền 4.000.000đồng của L để mua ma túy, L không nói với H, P, C1, N2 phải góp tiền mua ma túy.

Huyên điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 29N1-808.66 của L đi mua ma túy. Trên đường đi, H sử dụng số điện thoại 0333.690.xxx gọi đến số 0876905555 của Nguyễn Trường S hỏi mua 3 chỉ và 1 viên ma túy. S hiểu là H hỏi mua ma túy tổng hợp dạng kẹo và ma túy Ketamin. S đồng ý bán với giá 3.900.000đ và yêu cầu H chuyển khoản tiền vào tài khoản số 0986067994 mang tên Nguyễn Thị L1 của Ngân hàng TMCP Q (M) (đây là tài khoản của chị Nguyễn Thị L1 sinh năm 1994 là vợ S). Huyên chuyển khoản số tiền 3.900.000 đồng từ tài khoản số 1021064581 mang tên Nguyễn Hoàng H của Ngân hàng V2 đến tài khoản trên. Sau khi H chuyển tiền thì S hẹn H đến khu vực gần quán bia ở thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội để lấy ma túy.

Sau đó, H gọi điện thoại cho Đặng Văn T3, sinh năm 1999, HKTT: thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội - là nhân viên lễ tân của quán K ở tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội do chị Nguyễn Thị H6 sinh năm 1980, HKTT: xã A, huyện H, thành phố Hà Nội làm chủ quán đã ủy quyền cho anh Đặng Bá V1 sinh năm 1979, HKTT: tổ dân phố Q, phường D, quận H, thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm toàn bộ đối với hoạt động kinh doanh của quán để đặt phòng hát, T3 đồng ý. T3 không biết mục đích L đặt phòng hát để sử dụng ma túy.

Huyên gọi điện thoại từ số 0333.690.xxx của H đến số 0962712001 của L, thông báo cho L đã đặt được phòng hát có địa chỉ như trên rồi H điều khiển xe máy đi gặp S để lấy ma túy.

Sau khi nhận được tiền của H, S đi bộ ra khu vực gần cầu H, huyện T tìm mua ma túy bán lại cho H kiếm lời. Đến nơi, S mua 01 (một) túi nilông chứa 03 viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp dạng kẹo và 01 (một) túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine với giá 3.300.000 đồng của một người nam giới không quen biết. Mua xong, S cầm ma túy ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về gần quán bia thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội giao cho H. H cầm 02 túi ma túy vừa mua được cất trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về quán K.

Khi ra khỏi đám cưới, P điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS 29Y3-329.75 chở L, C1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu đỏ mận, BKS 29T1-869.54 chở N2 đi đến quán K. Đến nơi, N2 lấy điện thoại gọi T3 ra mở cửa và tất cả đi vào phòng hát số 4 của quán. Lúc này, trên mặt bàn của phòng hát có 01 (một) đĩa sứ màu trắng và 01 (một) thẻ nhựa cứng màu xanh có sẵn từ trước. L lấy tờ tiền 10.000 đồng từ trong túi quần đang mặc ra

quấn thành ống hút và để trên mặt đĩa. Khoảng 15 phút sau, H đến quán hát, H lấy 03 viên ma túy kẹo và túi ma túy Ketamine đổ ra đĩa, rồi lấy thẻ nhựa để xào ma túy Ketamine. Sau đó, H sử dụng ma túy Ketamine rồi lấy 01 viên ma túy kẹo sử dụng. H đi ra ngoài sảnh tầng 1 và bảo T3 gọi các nhân viên nữ đến để phục vụ. Lúc này, L, C1, N2, P cùng sử dụng ma túy. Khoảng 30 phút sau, Bùi Thị H4 sinh năm 2004, HKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Hạng Thị L2 sinh ngày 15/3/2007, HKTT: Thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang; Mồ Thị V sinh ngày 11/9/2006, HKTT: Thôn P, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang và Nguyễn Thị Mỹ H5 sinh ngày 18/3/2008, HKTT: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đến phòng hát để rót bia. Huyên đồng ý để các nhân viên nữ sử dụng ma túy. Thấy vậy, L2, V, H5 cùng nhóm H sử dụng ma túy, H4 không sử dụng ma túy. Các đối tượng ngồi hát và sử dụng hết ma túy thì H4, H5, L2, V đi về còn nhóm H tiếp tục ngồi hát. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, cả bọn H, Linh P1, C1, N2 đang ngồi hát thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H phối hợp cùng Công an phường D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngày 15/12/2023, bị cáo S đã tự nguyện đầu thú tại Công an quận H.

Tại kết luận giám định số 3779/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận:

  • -02 túi nilong (ký hiệu M1) đều có dính ma túy loại Ketamine.
  • -01 đĩa sứ màu trắng đường kính 25cm, 01 thẻ nhựa cứng màu xanh có chữ Mobifone, 01 ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ (ký hiệu M2) đều có dính ma túy loại Ketamine.
  • -Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Trường S khai mua của một người nam giới không quen biết ở khu vực gần cầu H, huyện T, thành phố Hà Nội. Ngoài lời khai của S không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để xác minh làm rõ người bán ma túy cho S.
  • -Anh Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2 khai: Khoảng 12 giờ 30 phút, Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Khắc P ngồi uống rượu đám cưới tại khách sạn C2, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. L rủ mọi người đi hát và sử dụng ma túy. Mọi người đều đồng ý. Sau đó, L và H đi ra khỏi bàn uống rượu. P, C1, N2 không nhìn thấy L đưa tiền cho H đi mua ma túy. L cũng không nói với P, C1, N2 góp tiền mua ma túy. Sau đó, P điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, BKS 29Y3-329.75 chở L, C1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu đỏ mận, BKS 29T1-869.54 chở N2 đi đến quán K. Đến nơi, N2 lấy điện thoại gọi T3 ra mở cửa và tất cả đi vào phòng hát số 4 của quán. Lúc này, trên mặt bàn của phòng hát có 01 (một) đĩa sứ màu trắng và 01 (một) thẻ nhựa cứng màu xanh có sẵn từ trước. L lấy tờ tiền 10.000 đồng từ trong túi quần đang mặc ra quấn thành ống hút và để trên mặt đĩa. Khoảng 15 phút sau, H đến quán hát, H lấy 03 viên ma túy kẹo và

túi ma túy Ketamine đổ ra đĩa, rồi lấy thẻ nhựa để xào ma túy Ketamine. Sau đó, H sử dụng ma túy Ketamine rồi lấy 01 viên ma túy kẹo sử dụng. H đi ra ngoài sảnh tầng 1 và bảo T3 gọi các nhân viên nữ đến để phục vụ. Lúc này, L, C1, N2, P cùng sử dụng ma túy. Khoảng 30 phút sau, Bùi Thị H4 sinh năm 2004, HKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Hạng Thị L2 sinh ngày 15/3/2007, HKTT: Thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang; Mồ Thị V sinh ngày 11/9/2006, HKTT: Thôn P, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang và Nguyễn Thị Mỹ H5 sinh ngày 18/3/2008, HKTT: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đến phòng hát để rót bia. H bảo các nhân viên nữ ai sử dụng ma túy thì lấy sử dụng. Thấy vậy, L2, V, H5 cùng nhóm H sử dụng ma túy, H4 không sử dụng ma túy. Các đối tượng ngồi hát và sử dụng hết ma túy thì H4, H5, L2, V đi về còn nhóm H tiếp tục ngồi hát. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi H, Linh P1, C1, N2 đang ngồi hát thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H phối hợp cùng Công an phường D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Chị Mồ Thị V, Nguyễn Thị Mỹ H5, Hạng Thị L2 khai nhận: H5, L2, V là nhân viên phục vụ quán karaoke. Khoảng 15 giờ ngày 07/6/2023, H5, L2, V đến quán K- đường G, D, H để phục vụ khách. Tại đây, có khoảng 05 thanh niên đang hát karaoke, H5, L2, V rót bia, bấm bài và hát cùng khách. Trên mặt bàn uống nước có 01 đĩa sứ màu trắng, bên trong có chứa chất bột trắng, H5, L2, V biết là ma túy Ketamine. Lúc đó, H đồng ý cho cho H5, L2, V sử dụng ma túy Ketamine. H5, L2, V cùng sử dụng ma túy Ketamine. Sau đó, H5, L2, V ra về trước.

Chị Bùi Thị H4 khai: Chị H4 là nhân viên phục vụ quán karaoke, Khoảng 15 giờ ngày 07/6/2023, chị H4 đến quán K- đường G, D, H để phục vụ khách. Tại đây chị H4 thấy có khoảng 05 người thanh niên đang hát karaoke. Ngoài chị H4, còn có H5, L2, V cùng phục vụ khách. Chị H4 ngồi hát được khoảng 20 phút thì bị nhóm khách yêu cầu đi ra ngoài nên ra về. Chị không biết gì về việc nhóm thanh niên sử dụng ma túy.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Trường S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng các bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Luật sư bào chữa cho Đinh Quang L phát biểu quan điểm: Luật sư đồng tình với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, bị cáo L đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Đối với tình tiết bị cáo L bị truy tố tại điểm c khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự, đề nghị xem xét: Huyên là người đi mua ma túy mang đến phòng hát, L sử dụng xong ma túy thì ngủ, không biết việc các nhân viên nữ của quán hát là H5, L2, V sử dụng ma túy, việc các nhân viên nữ sử dụng ma túy là

ngoài ý định của L, vì vậy L không phạm tội theo điểm c khoản 2 Điều 255 (đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng 90/CT-VKS-HĐ ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Trường S;

-Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

-Áp dụng điểm b, c, khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

+Xử phạt Đinh Quang L: 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.

+Xử phạt Nguyễn Hoàng H: 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.

-Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

Xử phạt Nguyễn Trường S: 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

-Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

-Xử lý vật chứng:

-Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

+Tịch thu sung quỹ 01 tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ được niêm phong dán kín ký hiệu M1 tại các mép dán có chữ ký của các đối tượng Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, cán bộ công an phường D và giám định viên Nguyễn Văn H7.

+Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì và 01 đĩa sứ được niêm phong dán kín ký hiệu M2, tại các mép dán có chữ ký các đối tượng Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, cán bộ công an phường D và giám định viên Nguyễn Văn H7.

+Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, lắp sim số 0333.690.xxx (thu giữ của Nguyễn Hoàng H).

+Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro Max màu xanh, lắp sim số 0962712001 (thu giữ của Đinh Quang L).

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen, BKS: 29N1-808.66, số khung: 3910KY410381, số máy: JA39E1279954.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Trường S nộp số tiền 3.900.000 đồng là tiền mua bán ma túy để sung quỹ nhà nước.

+Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H nộp số tiền 100.000 đồng là tiền Đinh Quang L đưa mua ma túy để sung quỹ nhà nước.

+Về án phí và quyền kháng cáo: theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Trường S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp kết luận giám định vật chứng của phòng K2 công an thành phố H, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2023 tại khách sạn C2, phường V, quận H, TP Hà Nội, Đinh Quang L đã rủ Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Khắc P đi hát karaoke và sử dụng ma túy. Cả nhóm đồng ý sử dụng ma túy.

L đưa cho H 2.000.000đ tiền mặt và chuyển khoản 2.000.0000đ vào tài khoản của H để H đi mua ma túy. H đồng ý đi mua ma túy. L tự bỏ số tiền 4.000.000 đồng mua ma túy, không yêu cầu H, P, C1, N2 góp tiền mua ma túy. L không nói với H, P, C1, N2 góp tiền mua ma túy. Sau đó, H điều khiển xe máy biển số 29N1-808.66 của L đi mua ma túy. Huyên liên hệ và mua của Nguyễn Trường S 01 túi nilon chứa 03 viên ma túy kẹo và 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng đều là ma túy Ketamin với giá 3.900.000đồng. Tiếp đó H đặt phòng hát tại quán K và thông báo với L để cả nhóm ra quán. Tại phòng hát số 4 của quán, L lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn thành ống hút và để trên mặt đĩa sứ màu trắng có thẻ nhựa cứng màu xanh có sẵn trong phòng. Khi H mang ma túy mua được đến phòng hát, H lấy thẻ nhựa để xào rồi đổ ma túy ra đĩa. L, H, P, C1, N2 cùng sử dụng ma túy. Sau đó, H gọi các nhân viên nữ của quán hát vào rót bia thì Hạng Thị L2, Mồ Thị V, Nguyễn Thị Mỹ H5 (đều là người dưới 18 tuổi) cùng sử dụng ma túy cùng nhóm của H, Bùi Thị H4 không sử dụng ma túy và ra về

trước. Các đối tượng ngồi hát và sử dụng hết ma túy thì các nhân viên nữ đi về còn L, H, P, C1, N2 tiếp tục ngồi hát. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng gồm: 02 túi ni lon, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ điện thoại mobifone màu xanh, 01 ống hút bằng tờ tiền 10.000đồng đều dính ma túy loại Ketamine. Như vậy hành vi của bị cáo Đinh Quang L và bị cáo Nguyễn Hoàng H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự: “đối với 02 người trở lên” và “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”.

Xét tính chất đồng phạm: Bị cáo Đinh Quang L là người khởi xướng, rủ các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, L cũng tự bỏ tiền của L đưa cho H để mua ma túy cho các đối tượng sử dụng. L đưa xe máy của L cho H điều khiển đi mua ma túy. Bị cáo Nguyễn Hoàng H là người trực tiếp đi mua ma túy, đặt phòng hát để bản thân và các đối tượng sử dụng ma túy. Vì vậy bị cáo L có vai trò cao hơn bị cáo H về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Đinh Quang L: cho rằng bị cáo L không phạm tội theo tình tiết điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Thấy rằng: Vụ án có tính chất đồng phạm, L là người khởi xướng, rủ mọi người sử dụng ma túy, tự bỏ tiền đưa cho H đi mua ma túy, đưa xe máy cho H điều khiển đi mua ma túy. H đồng ý đi mua ma túy, trực tiếp đi mua ma túy, đặt phòng hát. Tại phòng hát, L, H cùng có mặt, ma túy ketamin được để công khai trên đĩa sứ trên mặt bàn. Các đối tượng đã cùng các nhân viên nữ là H5, L2, V sử dụng hết ma túy. Vì vậy, L, H đã có hành vi cung cấp chất ma túy cho H5, L2, V (là những người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) sử dụng. Hành vi này của L, H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự: “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Do đó, không có căn cứ chấp nhận quan điểm bào chữa của Luật sư nêu trên.

Đối với bị cáo Nguyễn Trường S: Huyên gọi điện từ số điện thoại 0333.690.xxx đến số điện thoại 0876.905.xxx của S hỏi mua ma túy “mua 3 viên, 1 chỉ”, S và H đồng ý mua bán ma túy với giá 3.900.000 đồng. S gửi cho H số tài khoản 0986067994 - Ngân hàng TMCP Q (M) của chị Nguyễn Thị L1 (vợ S) để H chuyển tiền. Sau khi nhận được số tiền 3.900.000 đồng Huyên chuyển khoản từ tài khoản số 1021064581 mang tên Nguyễn Hoàng H đến tài khoản của chị L1, S hẹn H đến quán bia ở thôn H, xã H, huyện T để giao ma túy. Sau đó S đi bộ ra khu vực gần cầu H để mua ma túy bán lại cho H. S gặp và mua của một nam giới không quen biết 01 túi nilong chứa 03 viên nén màu xanh và 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng đều là ma túy Ketamin với giá 3.300.000 đồng. S cầm ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về quán bia giao cho H. S kiếm lời 600.000 đồng từ việc mua bán ma túy. Huyên và các đối tượng đã sử dụng hết ma túy mua của S, vì vậy không có cơ sở xác định khối lượng chất ma túy mua bán giữa S và H.

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Trường S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

-Đối với nội dung cơ quan công an điều tra bổ sung: ngày 04/01/2024, cơ quan công an quận H bắt quả tang Đỗ Việt H8, sinh năm 1997, HKTT: tổ F, phường P, quận H, TP Hà Nội có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, H8 khai ngoài lần mua ma túy bị bắt quả tang, vào khoảng cuối tháng 9 năm 2023 H8 có mua 500.000 đồng ma túy đá của một người tên S, nhà ở H, M, TP Hà Nội. H8 khai chỉ biết S qua quan hệ xã hội, ngoài thông tin trên H8 không biết S ở đâu, làm gì, H8 không có số điện thoại, không biết zalo, facebook của S. H8 cũng không nhận dạng được S qua bản ảnh. Nguyễn Trường S khai không biết H8 là ai và không bán ma túy cho H8. Vì vậy, không có đủ căn cứ xác định Nguyễn Trường S đã bán ma túy cho Đỗ Việt H8 vào khoảng cuối tháng 9 năm 2023.

-Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Trường S khai mua của một người nam giới không quen biết ở khu vực gần cầu H, huyện T, thành phố Hà Nội. Ngoài lời khai của S không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.

[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

-Đối với bị cáo Đinh Quang L:

  • -Tiền án, tiền sự: không.
  • -Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
  • -Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân không có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ông ngoại bị cáo có huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3 và là thương binh thương tật hạng 3, bị cáo có giấy khen của Đoàn thanh niên Công an thành phố H đã có thành tích trong công tác, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

-Bị cáo Nguyễn Hoàng H:

  • -Tiền án, tiền sự: không.
  • -Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • -Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân không có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có Bằng khen của T5, nhiều giấy khen của Trường T6 về thành tích học tập, có nhiều giấy khen của Giám đốc công an thành phố H về thành tích trong công tác nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương đề nghị xem xét cho bị cáo.

-Bị cáo Nguyễn Trường S:

  • -Tiền án, tiền sự: không.
  • -Nhân thân: Tại quyết định số 49/QĐ-XPHC ngày 18/4/2022 Công an huyện Q xử phạt Nguyễn Trường S 2.500.000đ về hành vi “cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã nộp phạt ngày 25/4/2022
  • -Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  • -Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện đầu thú tại cơ quan công an nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Trường S đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Xử lý vật chứng.

  • + 01 tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ được niêm phong dán kín ký hiệu M1 tại các mép dán có chữ ký của các đối tượng Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, cán bộ công an phường D và giám định viên Nguyễn Văn H7 là công cụ sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ vào ngân sách nhà nước.
  • +Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì và 01 đĩa sứ được niêm phong dán kín ký hiệu M2, tại các mép dán có chữ ký các đối tượng Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, cán bộ công an phường D và giám định viên Nguyễn Văn H7.
  • +01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, lắp sim số 0333.690.xxx (thu giữ của Nguyễn Hoàng H) là công cụ sử dụng vào việc phạm tội: Huyên sử dụng điện thoại gọi cho S mua ma túy, đặt phòng hát và gọi cho L đến phòng hát để sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung quỹ vào ngân sách nhà nước.
  • +01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro Max màu xanh, lắp sim số 0962712001 (thu giữ của Đinh Quang L) là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. H gọi điện cho L đến phòng hát để sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung quỹ vào ngân sách nhà nước.
  • + 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen, BKS: 29N1-808.66, số khung: 3910KY410381, số máy: JA39E1279954 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. L đưa xe máy cho H, H điều khiển xe máy đi mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ vào ngân sách nhà nước.
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Trường S nộp số tiền 3.900.000 đồng là tiền mua bán ma túy để sung quỹ nhà nước.
  • +Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H nộp số tiền 100.000 đồng là tiền Đinh Quang L đưa mua ma túy để sung quỹ nhà nước.

[6]. Án phí và quyền kháng cáo:

-Các bị cáo Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Trường S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.

[7]. Các vấn đề khác của vụ án

-Đối với Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Sỹ C1: do các đối tượng có lời khai ban đầu không thống nhất. Cơ quan điều tra đã điều tra bổ sung để làm rõ có việc Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Sỹ C1 góp tiền mua ma túy để sử dụng với Đinh Quang L hay không. Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: ban đầu Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Sỹ C1 khai L bỏ tiền mua ma túy, sau khi sử dụng cả nhóm sẽ chia đều tiền mua ma túy vì lý do: L, H nhằm trốn tránh trách nhiệm; P, C1, N2 do sử dụng ma túy không tỉnh táo, thấy H và L khai như vậy nên khai theo. Sau khi cơ quan công an điều tra tiến hành điều tra bổ sung, lấy lời khai, đối chất giữa từng đối tượng với nhau, Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2 đã khai rõ: Đinh Quang L tự bỏ số tiền 4.000.000đồng của L để mua ma túy, L không nói, không yêu cầu H, P, S1, C1 góp tiền mua ma túy. Huyên, P, S1, C1 không nói sẽ góp tiền mua ma túy, không góp tiền mua ma túy. Vì vậy, không có căn cứ xác định Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Sỹ C1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Sỹ C1 chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và ma túy đã sử dụng hết, vì vậy cơ quan công an đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Khắc P, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Sỹ C1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

-Đối với các đối tượng Mồ Thị V, Nguyễn Thị Mỹ H5, Hạng Thị L2 là nhân viên quán hát karaoke có hành vi sử dụng ma túy cùng các bị cáo, ma túy đã sử dụng hết, cơ quan công an đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Mồ Thị V, Nguyễn Thị Mỹ H5, Hạng Thị L2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

-Đối với chị Nguyễn Thị L1, vợ bị cáo Nguyễn Trường S, cơ quan điều tra đã làm rõ, chị L1 đăng ký số tài khoản 0986067994 ngân hàng M từ ngày 25/7/2022, chị L1 đã đưa cho S sử dụng từ tháng 2 năm 2023. S đã tải ứng dụng M về điện thoại của S, sau đó chị L1 cung cấp cho S mật khẩu đăng nhập. Tiền lương của chị L1 cũng được chuyển khoản vào số tài khoản 0986067994, nhưng do chị L1 không sử dụng tài khoản ngân hàng này nữa mà đã cho S sử dụng nên khi nào có tiền lương, S đều đi rút tiền mặt và trả cho chị. Việc S sử dụng số tài khoản trên để nhận tiền mua ma túy Huyên chuyển khoản vào ngày 07/6/2023, chị L1 không biết và không có liên quan gì. Vì vậy không có căn cứ xác định chị

Nguyễn Thị L1 có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Trường S.

-Đối với nội dung: Bà Nguyễn Thị T1, mẹ của bị cáo L có lời khai tại cơ quan điều tra cho rằng nguồn tiền mua xe máy biển số 29N1-808.66 là của bà, bà có đơn xin được lấy lại xe máy. Xét xe máy biển số 29N1-808.66 đứng tên Đinh Quang L, do L quản lý và sử dụng. Tại tòa án, bà T1 không xuất trình được tài liệu chứng minh quyền sở hữu xe máy, không xuất trình được tài liệu chứng minh bà bỏ tiền ra mua xe máy. Tại phiên tòa, bà T1 trình bày không có yêu cầu gì về chiếc xe máy trên nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Quang L và bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Áp dụng điểm b, c, khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

-Xử phạt Đinh Quang L: 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.

-Xử phạt Nguyễn Hoàng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017);

-Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt Nguyễn Trường S 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

  1. Xử lý vật chứng:

-Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ được niêm phong dán kín ký hiệu M1 tại các mép dán có chữ ký của các đối tượng Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, cán bộ công an phường D và giám định viên Nguyễn Văn H7.

+Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì và 01 đĩa sứ được niêm phong dán kín ký hiệu M2, tại các mép dán có chữ ký các đối tượng Nguyễn Hoàng H, Đinh Quang L, Nguyễn Khắc P, Nguyễn Sỹ C1, Nguyễn Đức N2, cán bộ công an phường D và giám định viên Nguyễn Văn H7.

+Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, lắp sim số 0333.690.xxx (thu giữ của Nguyễn Hoàng H).

+Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro Max màu xanh, lắp sim số 0962712001 (thu giữ của Đinh Quang L).

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen, BKS: 29N1-808.66, số khung: 3910KY410381, số máy: JA39E1279954.

Tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Trường S nộp số tiền 3.900.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

+Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H nộp số tiền 100.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

  1. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

Các bị cáo Đinh Quang L, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Trường S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Khắc P, anh Nguyễn Đức N2, anh Nguyễn Sỹ C1, bà Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị L1 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi,
  • nghĩa vụ liên quan;
  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Công an quận Hà Đông;
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Quang Linh và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger