TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Mai
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 510/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Hồng P, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Số B L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số D Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Vũ Thị Tuyết T; có vợ là Lê Thị Vân A và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 102/2017/HSST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 05/01/2024, tạm giam ngày 11/01/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, Lê Hồng P điều khiển xe mô tô biển số 16N4-3849 đến khu vực chắn tàu T, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích tìm mua ma tuý H1 về sử dụng cho bản thân. Tại đây, P gặp và thỏa thuận mua ma túy Heroine của một nam giới không rõ lai lịch khoảng ngoài 30 tuổi với giá 150.000 đồng. P điều khiển mô tô đi theo nam giới trên vào ngõ B N, quận L được khoảng 05 mét thì người này bảo P đứng chờ và yêu cầu P đưa tiền. Người nam giới nhận của P 150.000 đồng đi bộ vào trong ngõ, khoảng 02 phút thì quay lại đưa cho P 01 bao thuốc lá rồi đi đâu P không rõ. P cầm bao thuốc lá bằng tay phải mở ra kiểm tra thấy bên trong có 01 gói nilon màu trắng chứa ma túy Heroine rồi điều khiển xe mô tô đi về đến khu vực trước cửa nhà số B N, phường D, quận L thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Khi bị kiểm tra, P dùng tay phải đáp 01 vỏ bao thuốc lá về phía trước, cách đầu xe khoảng 1,5m. Tổ công tác tiến hành thu giữ vỏ bao thuốc lá, kiểm tra bên trong có 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy và 01 chiếc xe mô tô biển số 16N4-3849. Sau đó, tổ công tác đã đưa P cùng toàn bộ vật chứng về Công an phường D, quận L, thành phố Hải Phòng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận đối với chất bột màu trắng thu giữ của Lê Hồng P: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,15 gam, loại Heroine.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho P, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận L xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 16N4-3849 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 100/CT-VKSLC ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lê Hồng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Hồng P khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 05/01/2024, Lê Hồng P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,15 gam Heroine, mục đích là để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số B N, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Heroine có khối lượng 0,15 gam; bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhân thân bị cáo có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Heroine là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vỏ bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/01/2024.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 25MT/PC09 đựng số ma tuý và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh “Raison Ice Cafe".
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Hồng P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Mai | Hà Thị Nga |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hồng P tàng trứ trái phép chất ma túy
