TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2025/DS-ST
Ngày: 28 - 11 - 2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nghi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Khoa
- Bà Trần Thị Lệ
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Võ Tài Đức – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 49/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Trương Thị L, sinh năm 1961 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp C, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ngô Minh T, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Ấp C, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- (Văn bản ủy quyền số 28 ngày 23/02/2023).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L là luật sư Bùi Hảo T1 – Văn phòng luật sư Phạm Văn C thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (Vắng mặt nhưng có đơn từ chối tham gia tố tụng).
- Địa chỉ: Số D đường H, phường R, tỉnh An Giang.
- - Ngô Thị Bích T2, sinh năm 1080 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp C, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ngô Minh T, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Ấp C, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- (Văn bản ủy quyền số 28 ngày 23/02/2023).
- - Ngô Minh T, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Ấp C, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Ngô Quốc Q, sinh năm 2000 (Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp C, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Ngô Thị Bé H, sinh năm 1988 (Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Số 118/127A/32 Phan Huy Bích, phường 15, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
- Nay là số 118/127A/32 Phan Huy Bích, phường Tân Sơn, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
- - Bà Lê Thị B, sinh năm 1954 (Chết năm 2024)
- Địa chỉ: Ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1979 (Có mặt)
- Địa chỉ: Ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà B gồm:
- - Nguyễn Thị T4, sinh năm 1973 (Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Nguyễn Văn T5, sinh năm 1976 (Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1979 (Có mặt).
- Địa chỉ: Ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chủ tịch ủy ban nhân dân Đ1, tỉnh An Giang
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Châu Hùng K - Chủ tịch ủy ban nhân dân Đ1, tỉnh An Giang
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn L1 – Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân Đ1, tỉnh An Giang (Vắng mặt nhưng có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 25/4/2022 các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H: Vào năm 2003 Ngô Văn Đ (chết ngày 04/6/2021) và Trương Thị L đã khai khẩn, san lấp mặt bằng ở đầu mỏn đá bãi hoang thuộc bãi Đ, tổ I, ấp B, xã A, huyện K để cất nhà ở cùng với bốn người con. Phần đất có chiều ngang theo mặt nước là 27 mét, chiều dài đến chân núi là 12 mét, tổng diện tích 324 m2, ở trên có căn nhà ngang 6 mét, dài 12 mét, diện tích 72 m2, nhà và đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ở đó liên tục đến năm 2013 do ông Đ lâm bệnh tai biến đi lại gặp khó khăn nên tạm thời đưa lên dốc núi để ở, còn căn nhà cũ gia đình vẫn ở và không sang bán cho ai. Đến năm 2018 căn nhà bị xuống cấp gia đình tiến hành tu sửa thì bà Lê Thị B cùng con là Nguyễn Văn T3 đến ngăn cản, không cho sửa chữa và nhận là đất của gia đình bà. Gia đình có làm đơn gửi lên Ủy ban nhân dân xã A nhờ giải quyết thì đến ngày 08/8/2018 Ủy ban nhân dân xã A đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Nay yêu cầu ông T3, bà T4, ông T5 chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, xã A, huyện K (N là ấp B, đặc khu K) cho gia đình quản lý, sử dụng.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T3 trình bày: Năm 1990 gia đình ông qua A sinh sống, đến năm 1993 gia đình khai khẩn diện tích đất khoảng 3.500m² tọa lạc ấp B, xã A, huyện K trong đó có 1 phần là toàn bộ diện tích đất tranh chấp hiện nay, việc khai phá có một số người làm chứng.
Quá trình sử dụng đất, gia đình ông có trồng một số cây như dừa, xoài, cây sao, cây dầu và cất một căn nhà tạm vách lá, nền gạch tàu, mái tole. Khoảng năm 2001, gia đình bà L đến gặp cha ông là Nguyễn Văn L2 mượn một nền đất để cất nhà tạm đề dựng nhà nấu rượu, cha ông đồng ý. Việc cho ở nhờ trên đất chỉ nói miệng, không lập giấy tờ, việc ở nhờ có một số người dân biết sự việc. Đất này hiện này đất vẫn chưa có giấy tờ gì. Nhờ Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của ông Nguyễn Văn T3.
- Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị B là ông Nguyễn Văn T5 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của ông Nguyễn Văn T3.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân Đ1, tỉnh An Giang trình bày: Nguồn gốc, xác định loại đất của thửa đất tranh chấp số 151 và từ trước đến hiện nay thửa đất tranh chấp số 151 là do ai là người quản lý, sử dụng đất? Ủy ban nhân dân đặc khu để nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 căn cứ kết qua kiểm tra, xác minh và đối chiều các quy định tại Điều 137, 138, 139, 140, các căn cứ khác có liên quan Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn tui bình để xác định nguồn gồ, hiện trạng sử dụng đất và người đang quản lý, sử dụng đất để giải quyết theo quy định.
Thửa đất trên không lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, không lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè, không lấn đất, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình hạ tầng công cộng không, không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông.
Hiện nay, vị trí thửa đất theo tờ trích đo TĐ 20-2023 (151-4) ngày 18/5/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ban hành, được quy hoạch là đất ở nông thôn (ONT) theo Quyết định số 1707/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của UBND tỉnh K.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thủ tục giải quyết vụ án.
- - Về nội dung, Nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H xác định diện tích đất tranh chấp theo tờ trích đo địa chính số TĐ 20-2023, ngày 18/5/2023 là thửa đất số 151, có diện tích 126,6 m² tọa lạc ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang là do cha ông T là ông Ngô Văn Đ (đã chết ngày 04/6/2021) và mẹ ông T là bà Trương Thị L đã khai khẩn, san lấp mặt bằng và xây dựng nhà để ở vào năm 2003. Đến năm 2008, do cha ông T là ông Đ bị bệnh, đi lại khó khăn nên tạm thời đưa ông Đ lên dốc núi để ở và gia đình bà L, ông T, bà T2, ông Q, bà H cũng không còn sinh sống trên diện tích đất tranh chấp, còn căn nhà cũ gia đình vẫn để và không sang bán cho ai. Đến năm 2018, căn nhà bị
xuống cấp nên gia đình ông T về để tiến hành tu sửa, thì bà Lê Thị B, ông Nguyễn Văn T3 đến ngăn cản, không cho sửa chữa. Đồng thời, thửa đất tranh chấp đến nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các nguyên đơn cũng không cung cấp được các giấy tờ về quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013.
Căn cứ vào khoản 2, Điều 101 Luật đất đai 2013 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, ngày quy định về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định như sau: “Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận”.
Qua đối chiếu với quy định của pháp luật, xét thấy nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H chỉ sử dụng thửa đất tranh chấp để xây dựng nhà ở từ năm 2003 đến năm 2008 thì đã chuyển đi nơi khác sinh sống nên không phải trường hợp hộ gia đình đang sử dụng đất ổn định theo quy định của Luật đất đai 2013.
Từ các cơ sở phân tích trên, căn cứ vào các Điều 91, 92, 95 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014, các Điều 3, 100, 101, 170 Luật Đất đai 2013 đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T3, người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị
T4, ông Nguyễn Văn T5 chấm dứt hành vi ngăn cản bà L, ông T, bà T2, ông Q, bà H sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đo đạc thực tế là 126,6 m² tọa lạc ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang cho gia đình ông T, bà L, bà T2, ông Q, bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H khởi kiện tranh chấp QSD đất với bị đơn ông Nguyễn Văn T3. Hội đồng xét xử xác định tranh chấp của đương sự được quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
- - Nguyên đơn bà Trương Thị L, Ngô Thị Bích T2 vắng mặt nhưng có người đại diện là ông Ngô Minh T tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- - Nguyên đơn ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H, Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị B là Nguyễn Thị T4, Nguyễn Văn T5 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND đặc khu Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T3, người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 chấm dứt hành vi ngăn cản sử dụng quyền sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, huyện K, tỉnh Kiên Giang
(Nay là ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang) cho gia đình quản lý, sử dụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào năm 2001 Ngô Văn Đ (chết ngày 04/6/2021) và Trương Thị L có khai khẩn, san lấp mặt bằng cất nhà ở tại mổm đá bãi Đất Đỏ thuộc tổ 1, ấp B, xã A, huyện K (N là ấp B, đặc khu K) để cất nhà ở, nấu rượu, nuôi heo và bán tạp hóa. Đến cuối năm 2013 ông Ngô Văn Đ lâm bệnh tai biến đi lại khó khăn nên gia đình đưa lên dốc núi để ở nhưng các con ông Đ vẫn ở trong căn nhà trên. Đến năm 2018 căn nhà bị xuống cấp bà L tiến hành tu sửa thì bà Lê Thị B cùng con là Nguyễn Văn T3 đến ngăn cản, không cho sửa chữa nên các bên xảy ra tranh chấp.
Qua xác minh người dân, chính quyền địa phương thời điểm trước đây và chính quyền địa phương gồm trưởng ấp B, địa chính xã A cũ nay là đặc khu K hiện tại đều xác nhận ông Ngô Văn Đ, bà Trương Thị L khoảng năm 2001 ông Ngô Văn Đ, bà Trương Thị L có khai phá một phần đất tại mổm đá bãi Đất Đỏ thuộc tổ 1, ấp B, xã A, huyện K (N là ấp B, đặc khu K) để cất nhà ở, nấu rượu, nuôi heo và bán tạp hóa. Khu vực ông Đ, bà L sinh sống tại thời điểm đó các nhiều tàu thuyền neo đậu và ông Đ có 01 chiếc xuồng nhỏ thường bơi ra các tàu cá để bán hàng tạp hóa và mua cá về ăn. Mặc khác trong bản tự khai ngày 26/6/2023 và biên bản hòa giải ngày 28/10/2025 (BL 116,117) bị đơn ông Nguyễn Văn T3 thừa nhận năm 2001 bà Trương Thị L có cất 01 căn nhà để ở và nấu rượu nhưng phần đất là do cha ông là ông Nguyễn Văn L2 cho mượn cất nhà nhưng chỉ nói miệng. Ông T3 khai nại rằng cha ông là ông Nguyễn Văn L2 cho mượn cất nhà nhưng chỉ nói miệng nhưng ông không có chứng cứ gì chứng minh việc cha ông cho ông Đ, bà L ở nhờ nên không có căn cứ để xem xét.
Tại biên bản hòa giải ngày 08/8/2018 của UBND xã A ý kiến ông Hồ Minh H1 trưởng ấp như sau: Thời gian cất nhà thì không rõ, còn phần nhà thì cất trên đất nhà nước, không có ai tranh chấp. Lúc trước khi ông Nguyễn Văn B1 với Ngô Văn Đ đã hòa giải xong, không có tranh chấp gì.
Như vậy xác định ông Ngô Văn Đ, bà Trương Thị L có khai phá phần đất đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang) từ năm 2001 và sử dụng ổn định, liên tục đến năm 2018 do nhà xuống cấp nên muốn sửa chữa lại thì ông Nguyễn Văn T3 vào tranh chấp không thể sửa chữa được vẫn đến hư hõng, mục nát.
[4] Từ các cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H yêu cầu ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, đặc khu K cho gia đình quản lý, sử dụng.
- - Giao cho các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H được quyền sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang).
- Vị trí diện tích 126,6 m2 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kết hợp Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 12/4/2023 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 20-2023 gồm các cạnh 1,2,3,4,5,6, 7, 8,9,10,11,12,13,14,15 trong đó cạnh 1-2=15,61m; 2-3=2,62m; 3-4=2,76m giáp biển 4-5=2,74m; 5-6=1,20m; 6-7=8,76m; 7-8=2,71m; 8-9=3,44m; 9-10=3,02m; 10-11=2,60m; 11-12=1,80m; 12-13=1,41m;13-14=3,50m; 14-15=5,69m và cạnh 15-1=4,17m giáp đất nhà nước quản lý.
- Các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H có quyền đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nộp các khoản phí, thuế theo quy định của pháp luật.
- - Buộc ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn ông Nguyễn Văn T3 và người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 mỗi người phải liên đới chịu án phí số tiền 300.000 đồng.
[6] Về chi phí tố tụng:
Số tiền định giá là 8.960.000 đồng của Công ty TNHH một thành viên B2 và tiền trích đo bản vẽ là 963.468 đồng, tổng cộng là 9.923.468 đồng. Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn ông Nguyễn Văn T3 và người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 phải liên đới chịu số tiền 9.923.468 đồng. Do nguyên đơn đã nộp trước số tiền này nên buộc bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 9.923.468 đồng cho các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 50 Luật đất đai năm 2003; Điều 99, 100, 101 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H yêu cầu ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, đặc khu K cho gia đình quản lý, sử dụng.
- - Giao cho các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H được quyền sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang).
- Vị trí diện tích 126,6 m2 theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kết hợp Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K ngày 12/4/2023 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 20-2023 gồm các cạnh 1,2,3,4,5,6, 7, 8,9,10,11,12,13,14,15 trong đó cạnh 1-2=15,61m; 2-3=2,62m; 3-4=2,76m giáp biển 4-5=2,74m; 5-6=1,20m; 6-7=8,76m; 7-8=2,71m; 8-9=3,44m; 9-10=3,02m; 10-11=2,60m; 11-12=1,80m; 12-13=1,41m;13-14=3,50m; 14-15=5,69m và cạnh 15-1=4,17m giáp đất nhà nước quản lý.
- Các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H có quyền đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nộp các khoản phí, thuế theo quy định của pháp luật.
- - Buộc ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, trả lại quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế là 126,6 m2 tọa lạc ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn ông Nguyễn Văn T3 và người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 mỗi người phải liên đới chịu án phí số tiền 300.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng:
Số tiền định giá là 8.960.000 đồng của Công ty TNHH một thành viên B2 và tiền trích đo bản vẽ là 963.468 đồng, tổng cộng là 9.923.468 đồng. Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn ông Nguyễn Văn T3 và người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 phải liên đới chịu số tiền 9.923.468 đồng. Do nguyên đơn đã nộp trước số tiền này nên buộc bị đơn bà Lê Thị B là bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn T5 phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 9.923.468 đồng cho các nguyên đơn bà Trương Thị L, bà Ngô Thị Bích T2, ông Ngô Minh T, ông Ngô Quốc Q, bà Ngô Thị Bé H.
- Về quyền kháng cáo
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nguyên đơn, Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Nghi |
Bản án số 121/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 121/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lèo-Biết
