Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/DS-PT

Ngày: 14-02-2025

Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phúc

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Ông Đinh Tiền Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 và ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 640/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 689/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1974. Địa chỉ: 2 khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông K: bà Trần Thị Hồng X, sinh năm: 1960; địa chỉ: A KA ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ngày 09/01/2023).
  • - Bị đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà H: ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm: 1992. Địa chỉ: A Đỗ Tường P, P, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ngày 05/5/2023).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1953;
    2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956;
    3. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958;
    4. Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1970.
    5. Cùng địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, Long An.
    6. Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1965.
    7. Địa chỉ ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
    8. Bà Nguyễn Thị Mỹ T2, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
    9. Ông Nguyễn Ngọc K1, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
  • - Người làm chứng:
    1. Ông Trần Văn T3, sinh năm: 1941; địa chỉ: 1 khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
    2. Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm: 1956; địa chỉ: 2 khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
    3. Ông Nguyễn Văn O, sinh năm: 1958; Địa chỉ: ấp A xã T, huyện T, tỉnh Long An.
  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc K
  • - Cơ quan kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An

(Bà xuyến, bà H, ông Đ, ông K1 có mặt. Các đương sự còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10/8/2023 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc K ủy quyền cho bà Trần Thị Hồng X trình bày:

Cha ông K là ông Nguyễn Văn C (đã chết) khai dỡ đất hoang từ năm 1965, làm nhà ở ổn định đến năm 1992 thì cho lại ông K, phần đất này thuộc một phần thửa số 01 và một phần thửa số 05 tờ bản đồ 9-1 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Năm 2018 ông K hợp đồng với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo đạc hai thửa đất trên để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đất thì bà H không đồng ý ký giáp ranh và bà H kiện ông K được Ủy ban nhân dân thị trấn T hòa giải nhưng không thành. Nay bà X là người đại diện theo ủy quyền của ông K yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuộc một phần thửa số 01 diện tích 731,1 m² loại đất thổ và phần đất thuộc một phần thửa số 05 diện tích 317 m² loại đất ao, hai thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 9-1 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

Sau khi có mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022. Ngày 16 tháng 8 năm 2023 ông K nộp đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu công nhận cho ông K các thửa đất như sau:

  • Loại đất nuôi trồng thủy sản: diện tích 13,5m² + Khu B, diện tích 13,5m², một phần thửa số 5, loại đất NTS, mã đối tượng sử dụng, quản lý GDT, tờ bản đồ 9-1.
  • Loại đất ODT: Diện tích 493,6m², thuộc một phần thửa số 1, tờ bản đồ đồ 9-1 và một phần thửa số 702, tờ bản đồ số 2: mã đối tượng sử dụng, quản lý GDT
  • Khu D, diện tích 29,9m², một phần thửa số 1, loại đất ODT, mã đối tượng sử dụng đất GDT, tờ bản đồ 9-1.
  • Khu E, diện tích 457m², một phần thửa số 702, loại đất ODT, mã đối tượng sử dụng đất GDT,tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 8, diện tích 4,7m², một phần thửa số 702, loại đất ODT, mã đối tượng sử dụng đất GDT, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 9, diện tích 2m², một phần thửa số 702, loại đất ODT, mã đối tượng sử dụng đất GDT, tờ bản đồ số 2.
  • Loại đất DGT: Diện tích loại đất 274,6m², tờ bản đồ số 2, mã đối tượng sử dụng, quản lý UBQ.
  • Khu F, diện tích 44,4m², loại đất DGT, mã đối tượng sử dụng đất UBO, tờ bản đồ số 2.
  • Khu G, diện tích 168,7m², loại đất DGT, mã đối tượng sử dụng đất UBO, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 10, diện tích 35,6m², loại đất DGT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 11, diện tích 12,2m², loại đất DGT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 12, diện tích 10,9m², loại đất DGT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 13, diện tích 2,8m², loại đất DGT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Loại đất DTL: Diện tích 289,5m², tờ bản đồ số 2, mã đối tượng sử dụng, quản lý UBQ.
  • Khu H, diện tích 74,9m², loại đất DLT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu I, diện tích 180,5m², loại đất DLT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 02.
  • Khu 14, diện tích 1,5m², loại đất DLT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 15, diện tích 0,8m², loại đất DLT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu S, diện tích 9,2m², loại đất DLT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.
  • Khu số 17, diện tích 22,6m², loại đất DLT, mã đối tượng sử dụng đất UBQ, tờ bản đồ số 2.

Theo yêu cầu phản tố của bà H thì bà Trần Thị Hồng X là người đại diện theo ủy quyền của ông K không đồng ý theo yêu cầu của bà H với lý do: Hiện tại bà H và các đồng thừa kế của bà Lâm Thị T4 chưa cung cấp được chứng cứ để chứng minh đất của bà Lâm Thị T4 đang sử dụng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Phước Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày:

Nguồn gốc các thửa đất trên là của bà ngoại bà H để lại cho má bà H trước năm 1975. Do chiến tranh ông C là cha ông K xin má bà H cho ở nhờ để tránh bom đạn trước năm 1975, khi hòa bình thì má bà H có yêu cầu ông C di dời nhưng ông C chưa tìm được chỗ ở mới nên cứ hẹn lần hẹn lựa. Đến năm 1994 Nhà nước cho đăng ký kê khai cấp đất đại trà thì bà H đăng ký kê khai hai phần đất trên nhưng không được cấp vì có hộ ông K ở, còn bên nhà ông K cũng đăng ký kê khai nhưng cũng không được cấp vì nguồn gốc đất là của má bà H. Đến năm 2018 thì ông K đến xin bà H cho đo đạc để được cấp đất nhưng bà H không đồng ý và bà H yêu cầu ông K trả cho bà H nhưng ông K vẫn đi hợp đồng đo đạc kêu bà H ký giáp ranh nhưng bà H không đồng ý, bà H có nộp đơn ra Ủy ban nhân dân thị trấn T yêu cầu ông K trả đất cho bà H nhưng hòa giải không thành. Nay theo yêu cầu của ông K thì bà H không đồng ý, yêu cầu ông K trả đất lại cho bà H.

Ngày 01/12/2022 bà H có đơn phản tố, ông Nguyễn Phước Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: đất mà ông Nguyễn Ngọc K đang tranh chấp với bà H có nguồn gốc của má bà H là bà Lâm Thị T4. (Bà Lâm Thị T4, sinh năm 1925, chết năm 2006, ba bà H là ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1920, chết năm 1975. Ba, má bà H có 06 người con là Nguyễn Hoàng L; Nguyễn Thị N; Nguyễn Thị V; Nguyễn Hoàng T1; Nguyễn Thị H; Nguyễn Hoàng T). Trước năm 1975, má bà H có cho ông Nguyễn Văn C (cha của ông Nguyễn Ngọc K) mượn phần đất khoảng 1000m² (mượn miệng) tại ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An để cất nhà ở nhờ tránh bom đạn chiến tranh. Sau giải phóng, má bà H đòi đất, ông Nguyễn Văn C (cha ông K) xin má bà H tiếp tục ở nhờ vì chưa có nơi ở nào khác. Năm 1994, con của ông Nguyễn Văn C là ông Nguyễn Ngọc K, đến cơ quan chức năng kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất mượn của má bà H nhưng không được. Biết được sự việc này, má bà H đã gởi đơn đến UBND thị trấn T hoà giải đòi đất nhưng không hoà giải được vì ông C và ông K vắng mặt không tham gia hoà giải. Cùng năm 1994, má bà H xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ phần diện tích đất cho 05 hộ mượn trước năm 1975 (do chính bà H là người đại diện má bà H xin kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), trong đó có phần đất ông C mượn ở nhờ nhưng do các hộ mượn đất không trả, có tranh chấp nên chưa được giải quyết. Từ năm 1995- 2006 má bà H bệnh tật kéo dài không đủ sức khoẻ để đi kiện, năm 2006 qua đời. Sau khi ông C đã qua đời, hiện nay ông K là người quản lý phần đất đã mượn của má bà H. Nhận thấy, phần đất ông K đang tranh chấp - được ông Nguyễn Văn P1 (con bà Nguyễn Thị S); bà Nguyễn Thị Mỹ L1 (con dâu bà C1 Ai) là những người cùng mượn đất của má bà H trước năm 1975 có bản tường trình làm chứng về việc biết ông Nguyễn Văn C (cha ông K) mượn đất của má bà H, đồng thời việc ông K từ năm 1994 đến nay đã nhiều lần xin cấp giấy chứng quyền sử dụng phần đất mượn này nhưng không được cơ quan chức năng xem xét bởi vì đất này không phải của ông K, cho nên đối với yêu cầu khởi kiện của ông K bà H không đồng ý và có yêu cầu phản tố. Căn cứ kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính ngày 12/10/2022 thì diện tích đất gia đình ông K (mượn của má bà H) đang tranh chấp là:

  • Khu B= 13,5m², loại đất NTS thuộc thửa số 5, tờ bản đồ số 9-1
  • Khu D=29,9m², loại đất ODT, thuộc thửa số 1, tờ bản đồ số 9-1
  • Khu E= 457,3m², loại đất ODT, thuộc thửa 702, tờ bản đồ số 2;
  • Khu F=44,4m²,
  • Khu G=168,7m²
  • Khu H=74,9m²
  • Khu I= 180,5m²
  • Tổng diện tích là: 969,2m²

Nay bà H và ông Nguyễn Phước Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà H yêu cầu Toà án giải quyết công nhận phần đất thuộc khu B= 13,5m², loại đất NTS thuộc thửa số 5; khu D=29,9m², loại đất ODT, thuộc thửa số 1, cùng tờ bản đồ số 9-1; khu E=457,3m², loại đất ODT, thuộc thửa 702, tờ bản đồ số 2; Khu F=44,4m²; khu G=168,7m²; khu H=74,9m²; khu I= 180,5m² cùng tờ bản đồ số 2,toạ lạc tại Khu phố N, thị trấn T, huyện T, Long An, tổng diện tích là 969.2m² theo Mảnh trích đo địa chính số 164/2022 ngày 12/10/2022 thuộc quyền sử dụng đất của các đồng thừa kế của bà Lâm Thị T4 là Nguyễn Hoàng L; Nguyễn Thị N; Nguyễn Thị V; Nguyễn Hoàng T1; Nguyễn Thị H; Nguyễn Hoàng T.Yêu cầu ông Nguyễn Ngọc K tháo dỡ, di dời tài sản gắn liền với đất (nhà) để giao trả phần đất kể trên cho các đồng thừa kế của bà Lâm Thị T4.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng L, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Hoàng T, ông Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Hiện bà Nguyễn Thị H đang có yêu cầu phản tố tranh chấp với ông Nguyễn Ngọc K tổng diện tích 969,2m² (khu B, D, E, F, G, H, I thuộc thửa số 1, 5, 702) đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An phần đất này trước đây má ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 là bà Lâm Thị T4 cho gia đình ông K mượn ở nhờ, nên đây là di sản của bà Lâm Thị T4 để lại. Ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 là hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của bà Lâm Thị T4. Ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế của bà Lâm Thị T4 trong vụ án này. Trường hợp Tòa án chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H, phần diện tích thuộc các thửa đất nêu trên nếu được Tòa án công nhận cho các đồng thừa kế của bà T4 thì ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 tự nguyện giao cho bà H được hưởng toàn bộ. Hoặc trường hợp Tòa án giữ nguyên hiện trạng đất và tài sản gắn liền với đất giao cho ông K sử dụng đồng thời ông K phải có nghĩa vụ thanh toán lại bằng giá trị quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế của bà T4 thì ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 tự nguyện cho bà Nguyễn Thị H được nhận toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất mà ông K phải thanh toán.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ T2 và ông Nguyễn Ngọc K1 trình bày: bà T2 là vợ ông K, ông K1 là con ruột ông K. Bà T2 và ông K1 thống nhất ý kiến yêu cầu của ông K không có bổ sung gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K.
  2. Công nhận phần đất thuộc khu B, khu D, Khu E, khu H, khu 9 thuộc một phần thửa số 1, 5, 702 tờ bản đồ số 9-1 và tờ bản đồ số 2 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022 cho ông Nguyễn Ngọc K.

    Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H. Buộc ông Nguyễn Ngọc K hoàn trả cho bà H 301.837.000 đồng.
  4. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền chưa trả thì ông Nguyễn Ngọc K còn phải trả thêm tiền lãi tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  5. Về lệ phí thẩm định giá: ông Nguyễn Ngọc K đã ứng nộp 9.000.000 đồng chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chổ và thẩm định giá ông K tự nguyện chịu, đã nộp xong.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Ngọc K phải chịu 15.092.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.417.000 đồng theo biên lai thu số 0002351 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Ngọc K còn phải nộp thêm 2.675.000 đồng.
  7. Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.484.000 đồng theo biên lai thu số 0002783 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, hoàn trả cho bà H 7.184.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Ngày 06/9/2024 ông Nguyễn Ngọc K kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý trả cho bà H số tiền 301.837.000đồng.

Ngày 24/9/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định kháng nghị số 160/QĐ-VKS-DS kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về nội dung. Đối với phần đất do nhà nước quản lý án sơ thẩm nhận định không xem xét là không phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm đối với phần này.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

Phần tranh luận:

Bà X là người đại diện theo ủy quyền của ông K có kháng cáo trình bày: toàn bộ diện tích đất tranh chấp của gia đình ông K khai hoang và sử dụng từ trước năm 1960 cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất do điều kiện gia đình khó khăn ông chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2018 ông K làm đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H không đồng ý ký giáp ranh cho rằng toàn bộ phần đất gia đình ông K đang sử dụng là của mẹ bà H cho gia đình ông K ở nhờ, ông K không thừa nhận việc này, bà H không cung cấp được chứng đất có nguồn gốc của mẹ bà H là bà T4 cho ở nhờ. Bà T4 được cấp giấy chứng nhận mẫu bìa trắng năm 1992, đến năm 1996 bà T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu bìa đỏ nhưng không có thửa đất tranh chấp, đến năm 2006 bà T4 mới chết, trong thời gian bà T4 còn sống hoàn toàn không có tranh chấp hay yêu cầu gia đình ông K trả đất. Bà H trình bày năm 1994 - 1966 bà T4 có khởi kiện tranh chấp đất với gia đình ông K, nhưng gia đình ông K không đến, lời trình bày của bà H hoàn toàn không đúng sự thật, không có chứng cứ gì chứng minh.

Gia đình ông K sử dụng đất trước năm 1960 có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ trên, và thuế đất cho Nhà nước. Những người làm chứng lớn tuổi sống tại địa phương xác định đất gia đình ông K khai hoang, chính quyền địa phương cũng đã xác minh người dân tại địa phương nhưng không xác định được nguồn gốc đất là của ai. Gia đình ông K đã sử dụng ổn định, công khai liên tục, đóng thuế cho Nhà nước từ năm 1960 đến nay là trên 60 năm, sổ mục kê thể đất do gia đình ông K đứng tên, nên đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo thời hiệu theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 43 của Chính phủ và các điều 182, 183, 236 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 101 luật đất đai năm 2013. Do đó, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về việc không buộc ông K phải hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho bà H.

Ông Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: Căn cứ chứng minh nguồn gốc đất tranh chấp là của bà T4 cho gia đình ông K ở nhờ là lời trình bày thừa nhận của bà L1 và bà Đ2 tại biên bản hòa giải 26/02/2019, trong biên bản hòa giải này bà L1 thừa nhận đất tranh chấp do bà T4 cho gia đình bà L1 ở nhờ và gia đình bà L1 kêu gia đình ông K và ông K2 cất nhà ở. Người làm chứng ông Đ3 xác định nguồn gốc đất của gia đình bà T4 cho ở nhờ, chính quyền địa phương thì xác định không biết nguồn gốc đất của ai. Việc bà T4 mẹ bà H tranh chấp đất với gia đình ông K vào năm 1994 -1996 nhưng chính quyền địa phương mời gia đình ông K và gia đình ông K2 không đến nên không có lập biên bản, nhưng có ông T5 là cán bộ địa chính tại thị trấn T thời điểm năm 1994-1996 xác nhận có việc bà T4 có tranh chấp quyền sử dụng đất với gia đình ông K, ông K2. Bà H thừa nhận đất tranh chấp do gia đình ông K sử dụng nhưng nguồn gốc đất là của bà T4 mẹ bà H cho gia đình ông K mượn, do hiện nay gia đình ông K không còn chổ ở nào khác, ông K đã có công sức tôn tạo làm tăng giá trị đất nên bà H chỉ yêu cầu ông K trả 40% giá trị quyền sử dụng đất là có cơ sở. Do đó, đề ngị không chấp nhận kháng cáo của ông K, đề nghị chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát đối với phần đất do nhà nước quản lý.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông K và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án:

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An và kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc K thấy rằng:

Tòa án sơ thẩm nhận định Khu F, khu G, khu A, khu A, khu A, khu A, khu H, khu I, khu A, khu A, khu A, khu 17 là đất giao thông và đất thủy lợi không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên không xem xét là chưa đúng quy định. Lẽ ra, trong trường hợp này Tòa án đã thụ lý yêu cầu của đương sự nhưng sau khi có bản vẽ đủ cơ sở xác định các vị trí đất nêu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết thì phải đình chỉ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên đề nghị sửa nội dung phần này.

Xét về nguồn gốc đất: Các đương sự trình bày không thống nhất về nguồn gốc đất. Tuy nhiên bên bà H thừa nhận phần đất tranh chấp gia đình ông K đã sử dụng từ trước năm 1975. Căn cứ biên bản xem xét thẩm định chỗ ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa và các biên bản hòa giải tại UBND thị trấn T ngày 16/5/2019, ngày 26/02/2019 thể hiện các phần đất tranh chấp gia đình ông K quản lý sử dụng cất nhà kiên cố và trồng nhiều loại cây trên đất. Phù hợp với các biên bản xác minh đối với ông Võ Tấn Đ3, ông Ngô Văn S1, Nguyễn Thành N1, Lê Văn N2, ông Nguyễn Văn Ú, ông Huỳnh Văn N3, ông Trần Thanh N4, ông Đỗ Thành K3: xác nhận không biết đất tranh chấp có nguồn gốc của ai nhưng đều xác nhận gia đình ông K sống, cất nhà ổn định từ trước năm 1975 đến nay.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ bà H là bà Lâm Thị T4, sinh năm 1925 chết năm 2006, ông Nguyễn Văn Đ1 chết năm 1975. Trước năm 1975 bà T4 có cho ông Nguyễn Văn C (cha của ông Nguyễn Ngọc K) mượn phần đất khoảng 1000m² (mượn miệng) tại ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An để cất nhà ở nhờ tránh bom đạn chiến tranh. Việc cho mượn đất này không có giấy tờ chứng minh, những người làm chứng cho bà H đều không có căn cứ để chấp nhận. Đối với lời trình bày của bà Trần Thị Mỹ L2 xác nhận phần đất ông K đang tranh chấp có nguồn gốc của bà Lâm Thị T4 mẹ bà H cho ở nhờ nhưng tại đơn xin hủy tờ trình (tờ làm chứng) ngày 16/10/2023, bà L2 xác định bà ký vào tờ tường trình người làm chứng ngày 25/7/2022 theo yêu cầu của bà H, bà là người gốc Tây Ninh nên không biết gì về nguồn gốc đất, cũng không biết về việc bà T4 đến đòi đất và cũng không nghe nói lại. Do đó, không thể căn cứ vào lời trình của bà L2 để cơ sở giải quyết vụ án.

Mặt khác, ngày 23/10/1992, bà Lâm Thị T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy trắng) đối với 08 thửa đất số 649, 646, 704, 700, 647, 648, 644, 645, tổng diện tích 37800m². Ngày 25/11/1996, bà Lâm Thị T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 534, 535, 536, 537, 583, 584, 585, 586, 643, 644, 645 tọa lạc tại thị trấn T, huyện T. Căn cứ vào công văn số 723/UBND thị trấn T, ngày 11/8/2023 và công văn số 2216/UBND-NC của Ủy ban nhân dân huyện T thì phần đất hai bên đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Lâm Thị T4 chưa từng tiến hành đăng ký kê khai đối với phần đất tranh chấp, cũng như việc ông K quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp thì bà T4 không có ý kiến phản đối, hay khiếu nại gì. Từ đó, không đủ cơ sở xác định nguồn gốc đất là của bà Lâm Thị T4. Bị đơn phản tố cho rằng đất của bà T4 cho gia đình ông K ở nhờ nhưng không cung cấp cứng cứ nào chứng minh.

Từ những căn cứ trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu Kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Kháng nghị của Viện KSND tỉnh L là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc K. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Đơn kháng cáo của đơn ông K và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Đương sự vắng mặt có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  3. Xét kháng cáo của ông K không đồng ý hoàn trả cho bà H số tiền 301.837.000đồng là 40% giá trị của quyền sử dụng đất và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đề nghị sửa bản án sơ thẩm. Xét thấy:
    1. Bản án sơ thẩm nhận định phần đất tranh chấp tại khu F, khu G, khu A, khu A, khu A, khu A, khu H, khu I, khu A, khu A, khu A, khu 17 là đất giao thông và đất thủy lợi không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên không xem xét là chưa đúng quy định của pháp luật, lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần phải đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự đối với phần này theo điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng cấp sơ thẩm không xem xét phần này là không phù hợp với quy định nêu trên, do đó chấp nhận Quyết định kháng nghị phần này của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
    2. Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Nguyên đơn ông K trình bày nguồn gốc đất do ông Nguyễn Văn C là cha của ông K khai dỡ đất hoang từ trước năm 1965, làm nhà ở ổn định đến năm 1992 thì cho lại ông K. Bị đơn bà H trình bày nguồn gốc đất của mẹ bà H là Lâm Thị T4 cho cha của ông K ở nhờ từ trước năm 1975, tuy nhiên bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông C (cha ông K) mượn đất của bà T4 (mẹ bà H), ông K không thừa nhận việc cha ông mượn đất của bà T4. Những người làm chứng cho ông K trình bày đất tranh chấp do cha ông K khai hoang từ những năm 1960; những người làm chứng cho bà H trình bày đất tranh chấp do mẹ bà H cho cha ông K mượn. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lời trình bày mà không có tài liệu hoặc chứng cứ nào nên không có cơ sở xác định nguồn gốc của ai.
    3. Đối với lời trình bày của bà Trần Thị Mỹ L2 xác nhận phần đất ông K đang tranh chấp có nguồn gốc của bà Lâm Thị T4 mẹ bà H cho ở nhờ nhưng tại đơn xin hủy tờ trình (tờ làm chứng) ngày 16/10/2023, bà L2 xác định bà ký vào tờ tường trình người làm chứng ngày 25/7/2022 theo yêu cầu của bà H, bà là người gốc Tây Ninh nên không biết gì về nguồn gốc đất, cũng không biết về việc bà T4 đến đòi đất và cũng không nghe nói lại. Do đó, không thể căn cứ vào lời trình của bà L2 để cơ sở giải quyết vụ án.
    4. Bà H trình bày năm 1994-1996 mẹ bà H là bà Lâm Thị T4 có khiếu nại ra Ủy ban nhân dân thị trấn T về việc đòi lại đất đã cho ông C ở nhờ nhưng ông C và ông K không đến nên không giải quyết được, việc này có xác nhận của ông Nguyễn Văn T5 nguyên là cán bộ địa chính thị trấn T, đây cũng chỉ là lời trình bày của ông T5 mà không có tài liệu chứng minh. Tại văn bản số 572/CV-UBND, ngày 28/6/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn T (bút lục 140) thể hiện: năm 2018 gia đình ông K có đến UBND thị trấn T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong quá trình đo đạc làm thủ tục thì bà H gửi đơn không đồng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông K do đất có tranh chấp và Ủy ban nhân dân thị trấn T hòa giải 2 lần nhưng không thành vào năm 2019. Như vậy, không có căn cứ xác định bà T4 có đòi đất của ông K vào năm 1994 -1996.
    5. Về quá trình sử dụng đất: căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định gia đình ông K đã sử dụng đất từ trước năm 1975 đến nay, gia đình bà H hoàn toàn không sử dụng phần đất này. Gia đình ông K là người nộp thuế quyền sử dụng đất cho Nhà nước từ năm 1994 đến nay và tại phiên tòa bà H cũng thừa nhận phần đất tranh chấp gia đình bà không nộp thuế sử dụng đất cho Nhà nước.
    6. Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: căn cứ vào công văn số 2216/UBND-NC, ngày 13/4/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T (bút lục 136) thể hiện phần đất đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không nằm trong khu quy hoạch, giải tỏa bồi thường.
    7. Từ những nhận định trên xác định phần đất tại khu B, khu D, Khu E, khu H, khu 9 thuộc một phần thửa số 1, 5, 702 tờ bản đồ số 9-1 và tờ bản đồ số 2 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022 do gia đình ông K sử dụng từ trước năm 1975 đến nay là đã hơn 30 năm, gia đình ông K là người nộp thuế sử dụng đất cho Nhà nước nên đủ điều kiện để đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 182, Điều 183 và Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    8. Án sơ thẩm nhận định phần đất tranh chấp do gia đình của ông K mượn của mẹ bà H nên buộc gia đình ông K phải hoàn trả 40% giá trị quyền sử dụng (do gia đình ông K có công sức tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất) là không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, chấp nhận kháng cáo của ông K, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, sửa một phần bản án sơ thẩm.
  4. Về chi phí tố tụng: tổng cộng là 9.000.000 đồng ông K tự nguyện chịu toàn bộ, ông K đã nộp đủ và chi xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông K được chấp nhận và yêu cầu phản tố đòi lại quyền sử dụng đất của bà H không được chấp nhận nên bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông K được chấp nhận nên ông K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông K 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009120 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Chấp nhận kháng cáo ông Nguyễn Ngọc K;

Chấp nhận quyết định kháng nghị số 160/QĐ-VKS-DS ngày 24/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 175, Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 100, 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị H.
  2. Xác định phần đất thuộc khu B, khu D, Khu E, khu H, khu 9 thuộc một phần thửa số 1, 5, 702 tờ bản đồ số 9-1 và tờ bản đồ số 2 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Ngọc K.
  3. Ông Nguyễn Ngọc K có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án và theo quy định của pháp luật.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu ông Nguyễn Ngọc K trả lại 40% giá quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên với số tiền 301.837.000đồng.
  5. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K đối với phần đất tại khu khu F, khu G, khu A, khu A, khu A, khu A, khu H, khu I, khu A, khu A, khu A, khu 17 theo Mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022.
  6. Về chi phí tố tụng tổng cộng là 9.000.000đồng, ông Nguyễn Ngọc K tự nguyện chịu toàn bộ, ông K đã nộp đủ và chi xong.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  8. Ông Nguyễn Ngọc K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.417.000 đồng theo biên lai thu số 0002351 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

    Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.484.000đồng theo biên lai thu số 0002783 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, hoàn trả cho bà H 7.184.000đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.

  9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông K 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009120 ngày 12/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
  10. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  11. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Phúc

Thành viên Hội đồng xét xử/Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Văn N5 – Đ

Trịnh Thị P2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 121/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger