Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14 – 02 – 2025

V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Đặng Văn Ân
    • Ông Nguyễn Thị Nguyên
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 01 và các ngày 12, 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 764/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1044/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim H, sinh năm 1988; địa chỉ: C tổ F, ấp C, xã V, huyện B, TP .. (có mặt)
  • Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L; địa chỉ: Số A đường số C, KDC C, Phường E, quận G, TP .. (theo Giấy ủy quyền ngày 04/09/2024)
  • Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Trần Thị Minh H1, sinh năm 1995 Ông Lê Hà Long V, sinh năm 1996; cùng địa chỉ: Số A đường số C, KDC C, Phường E, quận G, TP .. (có mặt)
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lâm Đức T – Luật sư thuộc Công ty L, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H. (vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1983; địa chỉ: F ấp F, xã V, huyện B, TP .. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai, các tài liệu khác trong quá trình tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bao gồm:

Bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K ly hôn vào năm 2024. Trong thời kỳ hôn nhân bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K có tạo lập được tài sản là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị Kim H yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, thửa đất số 776, tờ bản đồ số 80, diện tích đất 93,5m² do bà H đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Bùi Thị Kim H yêu cầu được chia tài sản, giữ hiện vật là nhà đất. Bà Bùi Thị Kim H đồng ý hoàn lại ½ giá trị nhà đất tương ứng số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn K.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, phía nguyên đơn có yêu cầu được thỏa thuận như sau: Bà H vẫn yêu cầu được chia tài sản chung là 01 căn nhà F1/8/24 ấp F, xã V, huyện B với các phương án như sau:

  • - Nếu ông K định giá nhà từ 5.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng thì bà H yêu cầu cho bà và 02 con được nhận căn nhà, bà sẽ thanh toán cho ông ½ giá trị tài sản tương đương số tiền từ 2.500.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng, trả dần trong vòng từ 02 đến 06 tháng.
  • - Nếu ông K định giá nhà từ trên 6.000.000.000 đồng đến 7.500.000.000 đồng thì bà H sẽ để lại nhà cho ông K và yêu cầu ông K thanh toán cho bà H ½ giá trị tài sản tương đương số tiền 3.500.000.000 đồng trong thời hạn từ 02 tháng đến 06 tháng.

Theo các tài liệu khác trong quá trình tố tụng, ý kiến của bị đơn bao gồm:

Tài sản mà bà H yêu cầu chia là tài sản được tạo lập trước thời kỳ hôn nhân. Tôi không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của bà H. Tổng giá trị nhà và đất hiện tại là 7.500.000.000 đồng, tôi yêu cầu Tòa án chia cho bà H 30% giá trị tài sản tương đương số tiền 2.250.000.000 đồng, tôi nhận tài sản và hoàn lại cho tôi số tiền tương đương 70% giá trị tài sản là 5.250.000.000 đồng. Phần lớn nguồn tiền mua đất và xây nhà là tài sản trước hôn nhân của tôi.

Trước khi lấy bà H năm 2011 thì tôi có 01 căn nhà riêng trước hôn nhân tại địa chỉ 3 L, Phường A, Quận H, TP .. Sau kết hôn chúng tôi cùng sinh sống tại căn nhà đó. Đến năm 2020, tôi bán căn nhà riêng đi và mua miếng đất hiện tại ở F ấp F, xã V, huyện B, TP .. Và xét thấy công tạo lập trước trong hôn nhân. Tôi yêu cầu Tòa chia cho tôi 70% giá trị căn nhà và bà H là 30%. Giá trị thực tế căn nhà đó. Giá trị căn nhà là 7.500.000.000 đồng. Nếu bà H lấy căn nhà đó thì bà H đưa lại số tiền tương ứng 70% giá trị căn nhà cho tôi để tôi ổn định cuộc sống.

Tại phiên tòa:

Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh,

phía nguyên đơn yêu cầu được nhận hiện vật là nhà và đất và tự nguyện trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 3.000.000.000 đồng.

Phía bị đơn đề nghị được nhận giá trị tài sản chung và yêu cầu được nhận số tiền là 4.200.000.000 đồng, đồng thời đề nghị Tòa án tiến hành thẩm định giá lại giá trị quyền sử dụng đất (đối với giá trị công trình xây dựng thì phía bị đơn đồng ý) do kết quả định giá đất không chính xác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thẩm định giá lại tài sản theo yêu cầu của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K đăng ký kết hôn năm 2012, đến năm 2024 thì ly hôn, bà Bùi Thị Kim H yêu cầu chia tài sản chung của bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K tạo lập trong thời kỳ hôn nhân chưa chia là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn K hiện đang cư trú tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP ..

[2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, phía nguyên đơn không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

[3] Về nội dung:

[4] Bà Bùi Thị Kim H cho rằng nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, kèm theo đơn khởi kiện, bà Bùi Thị Kim H cung cấp Bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE173407, số vào sổ GCN: SS13315 do Sở T1 cấp ngày 21/7/2022. Trên Giấy chứng nhận thể hiện người sử dụng đất là cá nhân bà Bùi Thị Kim H, nhưng bà Bùi Thị Kim H thừa nhận đây là tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Ông Nguyễn Văn K cũng xác định nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.

[5] Do đó có cơ sở xác định nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K chưa chia.

[6] Về công sức đóng góp hình thành nên tài sản:

[7] Bà Bùi Thị Kim H đề nghị chia theo quy định của pháp luật mỗi bên một nửa. Bà Bùi Thị Kim H cho rằng công sức đóng góp của bà Bùi Thị Kim H và ông Nguyễn Văn K hình thành lên tài sản là như nhau.

[8] Ông Nguyễn Văn K không đồng ý với trình bày của bà H về công sức đóng góp hình lên tài sản và cho rằng: 1 - Đối với giá trị quyền sử dụng đất được mua bằng nguồn tiền có được từ việc bán căn nhà tại Quận H (có địa chỉ 3 L, Phường A, Quận H, TP .), mà căn nhà này là tài sản riêng của ông Nguyễn Văn K trước thời kỳ hôn nhân, các chứng cứ để chứng minh tình tiết này ông Nguyễn Văn K xác định đã cung cấp đầy đủ trong hồ sơ vụ án, không bổ sung gì thêm; 2- Đối với giá trị công trình xây dựng trên đất, ông Nguyễn Văn K cho rằng phần lớn giá trị nhà là nguồn gốc từ tài sản riêng của ông Nguyễn Văn K từ việc bán đất nền vào năm 2019, các chứng cứ để chứng minh tình tiết này ông Nguyễn Văn K xác định đã cung cấp đầy đủ trong hồ sơ vụ án, không bổ sung gì thêm. Vì vậy, ông Nguyễn Văn K cho rằng ông Nguyễn Văn K có công sức đóng góp nhiều hơn trong việc hình thành tài sản nên phải chia cho ông Nguyễn Văn K 70% giá trị, bà Bùi Thị Kim H 30% giá trị.

[9] Sau khi thẩm định các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa và kết quả việc thực hiện đối chất tại phiên tòa: Hội đồng xét xử nhận định không đủ cơ sở để xác định phần đóng góp của ông Nguyễn Văn K hình thành nên nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh như ý kiến của ông Nguyễn Văn K. Ngoài ra, các bên không cung cấp bất kỳ các yếu tố khác có liên quan như: Hoàn cảnh của gia đình của vợ, chồng; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng để Hội đồng xét xử đánh giá. Do đó, theo Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình thì tài sản chung này của vợ chồng được chia đôi.

[10] Nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh không thể chia được bằng hiện vật, do đó Hội đồng xét xử chia theo giá trị tài sản. Bà Bùi Thị Kim H có yêu cầu nhận hiện vật, ông Nguyễn Văn K có yêu cầu nhận giá trị tài sản nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình thì bà H phải thanh toán giá trị chênh lệch cho ông Nguyễn Văn K.

[11] Căn cứ Biên bản định giá tài sản thì: Giá trị đất là 6.800.000 đồng/m²; giá trị công trình xây dựng là 2.715.103.800 đồng.

[12] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE173407, số vào sổ GCN: SS13315 do Sở T1 cấp ngày 21/7/2022 thì đất có diện tích là 93,5m². Với đơn giá là 6.800.000 đồng/m² thì giá trị đất là 6.800.000 đồng/m2 x 93,5m² = 635.800.000 đồng.

[13] Như vậy, tổng giá trị nhà và đất là 2.715.103.800 đồng + 635.800.000 đồng = 3.350.903.800 đồng.

[14] Tại buổi định giá tài sản cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn K không đồng ý với kết quả định giá tài sản, cụ thể là ông K không đồng ý về giá trị

quyền sử dụng đất. Tuy nhiên các tài liệu, chứng cứ để chứng minh Kết quả định giá là không chính xác mà ông Nguyễn Văn K cung cấp tại phiên tòa đều không đủ giá trị chứng cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 94, Khoản 1 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hơn nữa, qua xem xét, thẩm định các tài liệu này tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy cũng không đủ giá trị chứng minh Kết quả định giá là không chính xác. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của phía nguyên đơn bà Bùi Thị Kim H về việc thẩm định lại giá trị tài sản, nhưng nguyên đơn không đồng ý thẩm định lại giá trị tài sản. Căn cứ Khoản 5 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu liên quan đến việc định giá lại hoặc thẩm định giá lại tài sản theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn K và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[15] Như đã phân tích tại [9], [10], [13], thì bà Bùi Thị Kim H được quyền sở hữu nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn K ½ giá trị nhà và đất tương đương số tiền 1.675.451.900 đồng. Tại phiên tòa, bà Bùi Thị Kim H tự nguyện đồng ý thanh toán cho ông Nguyễn Văn K số tiền 3.000.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy số tiền này nhiều hơn phần giá trị mà đáng lẽ bà Bùi Thị Kim H phải thanh toán nhưng đây là sự tự nguyện của bà H do đó Hội đồng xét xử ghi nhận và xác định phần giá trị mà bà Bùi Thị Kim H phải trả cho ông Nguyễn Văn K là 3.000.000.000 đồng.

[16] Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị Kim H mỗi người phải chịu 50% chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản. Bà Bùi Thị Kim H đã tạm ứng 4.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nên ông Nguyễn Văn K phải trả lại cho bà Bùi Thị Kim H số tiền 2.000.000 đồng.

[17] Án phí: Ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị Kim H mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 1.675.451.900 đồng. Đối với phần giá trị chênh lệch giữa sự tự nguyện của bà Bùi Thị Kim H thanh toán cho ông Nguyễn Văn K thì ông Nguyễn Văn K không phải chịu án phí dân sự đối với phần chênh lệch này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 105 ; Điều 147; Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 33, 59 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 24, điểm a Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim H về việc chia tài sản sau khi ly hôn đối với nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ

Chí Minh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE173407, số vào sổ GCN: SS13315 do Sở T1 cấp ngày 21/7/2022.

Bà Bùi Thị Kim H được quyền sở hữu nhà và đất tại địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Buộc bà Bùi Thị Kim H phải trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 3.000.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Chi phí tố tụng:

Ông Nguyễn Văn K phải trả lại cho bà Bùi Thị Kim H số tiền 2.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí và xử lý tiền tạm ứng án phí:

Ông Nguyễn Văn K phải chịu 62.263.557 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Bùi Thị Kim H phải chịu 62.263.557 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 28.500.000 đồng mà bà Bùi Thị Kim H đã tạm nộp theo Biên lai số 42798 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, bà Bùi Thị Kim H còn phải nộp thêm 33.763.557 đồng.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị Kim H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồng - Khỏe
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger