|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2024/HS-ST Ngày 29 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đồng Văn Diện.
- Ông Chu Quốc Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giangtham gia phiên tòa: Ông Phùng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với:
* Bị cáo:
Họ và tên: Lò Việt D, tên gọi khác: Không; sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lò Văn P và bà Lường Thị T; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc ngày 16/11/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh S đối với Lò Việt D trong thời hạn 24 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 30/8/2008. (Đã được xoá)
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 13/11/2010 của Công an huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Việt D 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong tiền phạt ngày 22/11/2010. (Đã được xoá)
- + Bản án số 32/2018/HSST, ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Việt D 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2018; nộp xong án phí HSST ngày 04/5/2018. (Đã được xoá)
- + Bản án số 27/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Việt D 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/3/2021; nộp xong án phí HSST ngày 19/6/2020. (Đã được xoá)
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. (Có mặt)
* Người bị hại:
- Chị Phan Thị H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Phố B, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- Chị Vi Thị T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, Lò Việt D, sinh năm 1985, trú tại: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đi xe ô tô khách từ ngã tư thị trấn K, huyện L xuống Trung tâm y tế huyện L ở tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang để tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến nơi, D đi bộ vào trong tòa nhà 07 tầng của Trung tâm y tế huyện rồi bấm thang máy đi lên tầng 5. D đi dọc hành lang đến phòng 511 khoa ngoại thì thấy trong phòng có chị Phan Thị H, sinh năm 1978 ở phố B, xã A, huyện L đang nằm ngủ ở giường bệnh số 02 bên trái hướng từ cửa vào. Đồng thời, D phát hiện ở cuối giường cạnh chân chị H có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 ốp bên ngoài bằng nhựa màu đỏ, hoa văn màu trắng nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. D đi đến cạnh giường chị H nằm và cầm chiếc điện thoại Oppo A12 đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi ra hành lang theo lối cầu thang bộ xuống tầng 3 tòa nhà. Tại đây, D đi bộ dọc hành lang đến phòng số 308 thì thấy trong phòng có chị Vi Thị T1, sinh năm 1980 ở thôn V, xã N, huyện L đang nằm ngủ tại giường bệnh số 3 bên trái hướng từ cửa vào và ở cạnh người bên tay phải chị T1 có để 01 điện thoại di động Samsung A23 ốp bên ngoài bằng nhựa màu trắng hồng nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. D đi đến cạnh giường chị T1 nằm và cầm chiếc điện thoại Samsung A23 đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi rời đi ra đường Q bắt xe ô tô khách quay về thị trấn K. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, D bán chiếc điện thoại Oppo A12 trộm cắp được của chị H cho một nam giới không quen biết ở gần chợ K với giá 500.000 đồng. Sáng ngày hôm sau, D đi xe ô tô khách đi xuống ngã tư thuộc phường D, thành phố B bán chiếc điện thoại Samsung A23 trộm cắp của chị T1 cho một người nam giới không quen biết với giá 1.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp trên, D khai đã chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.
Sau khi bị trộm cắp tài sản, ngày 09/9/2024 chị H và chị T1 làm đơn trình báo sự việc đến Công an huyện L đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L triệu tập Lò Việt D đến làm việc thì D đầu thú khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp: 01 quần bò dài màu đen, xám bạc cũ không nhãn mác; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu trắng, xám, vàng; 01 đôi dép nhựa màu đen là trang phục D mặc khi trộm cắp tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 97/KL- HĐĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận:
“Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá ngày 03/9/2024 có giá 2.200.000 đồng”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 98/KL- HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận:
- “- Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 03/9/2024 có giá 800.000 đồng.
- - Giá trị 01 chiếc ốp điện thoại di động bằng nhựa màu đỏ, hoa văn màu trắng, đã qua sử dụng của chiếc điện thoại Oppo A12 nêu trên tại thời điểm ngày 03/9/2024 có giá 5.000 đồng.
- - Giá trị 01 ốp điện thoại di động bằng nhựa màu trắng hồng đã bị cũ bẩn, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 03/9/2024 có giá là 10.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản cần định giá là 815.000 đồng”
Cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Lò Việt D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Lò Việt D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu.
Người bị hại đã được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên toà.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Việt D từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09/9/2024.
Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị giải quyết về án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo Lò Việt D không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Lò Việt D nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, HĐXX căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 03/9/2024, tại tòa nhà 07 tầng của Trung tâm y tế huyện L, địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Lò Việt D đã có hành vi lén lút lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 trị giá 805.000 đồng của chị Phan Thị H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, trị giá 2.210.000 đồng của chị Vi Thị T1. Tổng giá trị tài sản D trộm cắp là 3.015.000 đồng (Ba triệu không trăm mười lăm nghìn đồng.)
Xét thấy bị cáo Lò Việt D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì muốn có tiền để chi tiêu cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trị giá 3.015.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an ninh xã hội. Do đó, HĐXX thấy cần có hình phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân bị cáo:
Bị cáo Lò Việt D là người có nhân thân xấu: Tại Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc ngày 16/11/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh S đối với Lò Việt D trong thời hạn 24 tháng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 13/11/2010 của Công an huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Việt D 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 32/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Việt D 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 27/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Việt D 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Từ đó cho thấy bị cáo là người không chịu rèn luyện, không chấp hành pháp luật.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Loại và mức hình phạt theo Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đề nghị là có căn cứ.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Vi Thị T1 và chị Phan Thị H đều không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 quần bò dài màu đen, xám bạc cũ không nhãn mác; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu trắng, xám, vàng; 01 đôi dép nhựa màu đen là trang phục D mặc khi trộm cắp tài sản là tài sản cá nhân của bị cáo. Nay bị cáo không yêu cầu nhận lại những tài sản này. Thấy rằng các tài sản không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Các vấn đề khác:
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Việt D 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/9/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 quần bò dài màu đen, xám bạc cũ không nhãn mác; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu trắng, xám, vàng; 01 đôi dép nhựa màu đen.
(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 87/QĐ-VKS ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang)
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Lò Việt D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Mai Lan |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị xử phạt 10 tháng tù
