|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 121/2024/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Bích Liên và ông Nguyễn Duy Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1994; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trịnh Thị L; có vợ là Vi Thị V và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 71/2016/HSST ngày 28/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, T chấp hành xong hình phạt tù tháng 6/2017, chấp hành xong phần án phí 10/3/2017;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 05/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
Dương Quý N, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1995; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà Chu Thị T2; có vợ là Trần Thị Xuân M và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
Ngô Quý K, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1988 tại S, Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ, ngày 07/10/2024 Ủy ban kiểm tra Huyện ủy S có Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 167-QĐ/UBKTHU; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quang T3 và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Đỗ Thị H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 05/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Anh Hồ Văn T5, sinh năm: 1985, trú tại: Thôn Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
Chị Dư Thị Thu H2, sinh năm 1993, trú tại: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2024, anh Hồ Văn T5, sinh năm: 1985, trú tại xã T, huyện M, thành phố Hà Nội nói chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1994 trú tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (anh T5 và chị H3 có mối quan hệ bạn bè) là anh T5 đang cần một khoản tiền khoảng 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng để giải quyết công việc cá nhân, nếu vay ngân hàng thì lâu, thủ tục lằng nhằng, phức tạp nên anh T5 muốn cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent, BKS: 30H-842.56, đăng ký đứng tên anh T5 để vay bên ngoài khoảng một tháng rưỡi nhưng không biết ai nhận cầm cố xe cho vay tiền nên anh T5 hỏi chị H3 nếu biết ai nhận cầm cố xe cho vay tiền thì giới thiệu cho anh T5. Chị H3 bảo để chị H3 hỏi có gì sẽ thông tin lại cho anh T5. Sau đó chị H3 nhắn tin hỏi Ngô Quý K, sinh năm 1988, hiện đang ở tại phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc làm nghề cầm đồ và cho vay lãi (chị H3 và K có mối quan hệ quen biết) là anh T5 muốn cầm cố xe ô tô để vay khoảng 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng trong thời hạn một tháng rưỡi. K đồng ý và yêu cầu chị H3 chụp hình ảnh xe ô tô và giấy đăng ký xe gửi cho K xem trước. Ngày 25/4/2024, chị H3 gửi hình ảnh xe ô tô và đăng ký xe cho K thì K đồng ý cho vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày và sẽ cắt trước 45 ngày tiền lãi bằng 67.500.000 đồng, K hẹn gặp chị H3 ở quán cà phê “V" thuộc phường K, V vào hồi 17 giờ ngày 26/4/2024. Sau đó K gọi điện bảo Dương Quý N, sinh năm: 1995 trú tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (N cũng làm nghề cầm đồ cho vay lãi) là có khách đang muốn cầm cố xe ô tô để vay số tiền khoảng 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, K lấy lãi của khách 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày nhưng K không có tiền nếu N có tiền hoặc giới thiệu người cho vay thì K cắt một nửa tiền lãi, rồi K gửi cho Nhân ảnh chụp xe ô tô, ảnh chụp đăng ký của xe ô tô trên. N đồng ý nhưng N cũng không có tiền nên đã nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Văn T, sinh năm: 1994 trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (T cũng làm nghề cầm đồ, cho vay lãi) bảo có xe ô tô người ta đang muốn cắm vay khoảng 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng nhưng N không có tiền nếu T có tiền thì cho người ta cắm, người ta viết giấy bán xe cho, đồng thời N gửi cho T ảnh chụp xe ô tô và đăng ký xe. T đồng ý và hẹn chiều ngày 26/4/2024 gặp để xem xe. Sau đó, T gọi qua Zalo cho Lê Phương N1, sinh năm 1994 trú tại xã Đ, huyện H, Thành phố Hà Nội nói là hiện đang có khách muốn cắm xe ô tô Accent đời 2022 để vay số tiền khoảng 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, nhưng T chỉ có 100.000.000 đồng nếu N1 có tiền thì chung tiền với T cùng cho khách vay, T lấy lãi của khách là 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày, T cho người môi giới là 500 đồng/1 triệu/1 ngày, T và N1 mỗi người sẽ hưởng 750 đồng/1 triệu/1 ngày, rồi T gửi hình ảnh xe ô tô trên cho N1 xem. N1 đồng ý và nói với T khi nào nhận xe thì bảo N1 để N1 chuyển tiền.
Đến ngày 26/4/2024, K hẹn gặp chị H3, anh T5 tại quán cà phê “V" thuộc phường K, thành phố V để xem xe, đồng thời K thông báo cho N để N đi cùng với K. Sau đó N gọi cho T, T đi xe khách từ thành phố L, tỉnh Lào Cai để về thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi T đi đến KM A đường C - Lào Cai thuộc địa phận xã H, huyện B thì N điều khiển xe ô tô đến đón T và đưa T đến quán cà phê “V”. Lúc này chỉ có K, N và T ngồi tại quán, K nói lại với N và T việc có khách cầm cố xe ô tô để vay khoảng 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng trong thời gian khoảng một tháng rưỡi, Kông sẽ cắt lãi 45 ngày với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày nhưng do K không có tiền để cho vay, N và T có tiền cho vay thì K sẽ cắt một nửa tiền lãi cho N và T. T đồng ý và bảo K, T sẽ bỏ tiền ra cho khách vay. Kông, T, N thống nhất với nhau là khi nào chị H3 và bạn của chị H3 đến thì N và T sẽ sang bàn khác ngồi để K làm việc với chị H3 và bạn chị H3. Khoảng 17 giờ ngày 26/4/2024 chị H3 cùng anh T5 đi chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT, BKS: 30H - 842.56 đến quán cà phê “V” gặp K. Khi thấy chị H3 và anh T5 vào quán thì N và T đi sang bàn bên cạnh ngồi, lúc này chị H3 và anh T5 vào ngồi cùng bàn với K. K bảo T sang ngồi cùng với K để nói chuyện với chị H3 và anh T5, chị H3 nói với K, T là anh T5 cần tiền làm ăn muốn vay của K khoảng 300.000.000 đồng và sẽ cầm cố chiếc xe ô tô của anh T5 để làm tin. Nghe chị H3 nói vậy thì K chỉ tay vào chị H3 và nói với T: đây là đứa em của anh, bạn nó cần tiền làm ăn muốn vay 300.000.000 đồng và sẽ cầm cố xe của anh này đồng thời K chỉ tay vào anh T5 rồi K nói với T, K đã thỏa thuận lấy lãi 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, T đồng ý. Sau đó K, T ra ngoài xem xe, còn chị H3 ngồi trong quán. Sau khi xem xong thì K, T, anh T5 quay vào trong quán, K yêu cầu anh T5 phải viết giấy bán xe và để lại giấy tờ xe cho K. Trước khi anh T5 viết giấy bán xe thì K bảo N đi xe ô tô của anh T5 đến “Gara ô tô DMB” ở Khu đô thị N thuộc xã T, thành phố V gặp bạn K là Nguyễn Anh T6, sinh năm 2000 trú tại xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái đang làm thuê ở đó để kiểm tra số khung, số máy của xe ô tô. Sau đó, K lấy tờ mẫu giấy bán xe mà K đã chuẩn bị từ trước ra đưa cho anh T6, rồi hướng dẫn anh T6 viết giấy bán xe, ghi tên người mua là Nguyễn Văn T. Quá trình anh T6 viết giấy bán xe thì T nhắn tin bảo N1 chuyển 150.000.000 đồng cho T, N1 đã sử dụng tài khoản 19034649790011 ngân hàng T9 đứng tên N1 chuyển số tiền 50.000.000 đồng và tài khoản 19034649790011 ngân hàng T9 đứng tên N1 chuyển số tiền 100.000.000 đồng đến tài khoản 106001560957 ngân hàng V1 đứng tên T. Sau đó, N gọi điện cho K nói là “ok” (Kông hiểu ý là số khung, số máy chuẩn) thì K bảo N đi xe ô tô về quán. Khi anh T6 viết xong giấy bán xe thì K bảo T tính tiền lãi và chuyển tiền cho anh T6. Sau khi hai bên thỏa thuận trừ tiền lãi 45 ngày là 67.500.000 đồng thì T còn phải chuyển cho anh T6 là 232.500.000 đồng, nhưng K nói với T là chuyển 233.000.000 đồng cho tròn tiền thì T đồng ý nên đã sử dụng tài khoản 106001560957 ngân hàng V1 đứng tên của T chuyển 05 lần tiền trong đó có 04 lần mỗi lần chuyển 50.000.000 đồng, 01 lần chuyển 33.000.000 đồng vào tài khoản 0260199899999 ngân hàng Q đứng tên anh T6. Khi anh T6 vừa xác nhận với K là đã nhận đủ tiền thì Cơ quan Công an vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang K, T về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, còn N bỏ trốn. Tang vật thu giữ: số tiền 233.000.000đ, xe ô tô BKS: 30H-842.56, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 30H – 842.56, 01 xe ô tô Ki a Cerato, BKS: 22A – 149.11; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max, 01 điện thoại Iphone 11, 01 căn cước công dân và số tiền 1.400.000 đồng của Ngô Quý K, 01 điện thoại OPPO A57 của Nguyễn Văn T, 01 điện thoại Iphone XS Max của anh Hồ Anh T7, 01 tờ giấy bán xe có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T và Hồ Văn T5.
Ngày 30/4/2024 Dương Quý N đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra xác định ngoài hành vi cho vay lãi nặng nêu trên, Ngô Quý K còn 2 lần cho chị Dư Thị Thu H2, sinh năm 1993 trú tại xã T, huyện T, Phú Thọ vay tiền với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 28/3/2024, chị H2 sử dụng tài khoản Zalo lấy tên "Lặng Lẽ Buông", đăng ký bằng số điện thoại 0988.627.xxx của chị H2 gọi điện đến tài khoản Zalo của K chị H2 lưu trong máy là "Anh Em Quán" đăng ký bằng số điện thoại 0989.577.xxx của K để hỏi vay Kông số tiền 20.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng, K đồng ý và thỏa thuận với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày; chị H2 đồng ý nên cùng ngày, K đã đưa cho chị H2 viết 01 tờ giấy vay tiền theo mẫu in sẵn và chuyển khoản số tiền 17.000.000 đồng cho chị H2 vay (đã cắt lãi 1 tháng = 3.000.000 đồng) từ tài khoản 104869396438 ngân hàng V1 đứng tên của K đến tài khoản 1019690525 ngân hàng V2 đứng tên của chị H2.
- Lần thứ hai: Ngày 19/4/2024 chị H2 tiếp tục hỏi vay K số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn vay hai tháng, K đồng ý và tính lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, cắt lãi trước 01 tháng là 1.500.000 đồng. Cùng ngày K đưa cho chị H2 viết 01 giấy vay tiền theo mẫu in sẵn và chuyển 8.500.000 đồng tiền mặt cho chị H2 (đã cắt 1.500.000 đồng tiền lãi 01 tháng).
Như vậy, K, N và T đã cho anh Hồ Văn T5 vay lãi nặng với số tiền gốc 300.000.000 đồng, lãi suất 5000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày (tương đương 182,5%/năm); cắt lãi trước 45 ngày là 67.000.000 đồng trong đó tiền lãi tối đa (20%/năm) theo quy định của Bộ luật dân sự là 7.397.260 đồng, tiền thu lời bất chính là 59.602.740 đồng.
Ngoài ra, K còn cho chị Dư Thị Thu H2 vay lãi nặng với tổng số tiền gốc 30.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày (tương đương 182,5%/năm), cắt lãi trước 1 tháng là 4.500.000 đồng trong đó tiền lãi tối đa (20%/năm) theo quy định của Bộ luật dân sự là 493.151 đồng, tiền thu lời bất chính là 4.006.489 đồng.
Ngày 26/4/2024, chị Phạm Thu T8 – chủ quán cà phê “V” đã tự nguyện giao 01 USB chứa video ghi lại dữ liệu Camera trong quán để phục vụ điều tra.
Ngày 27/4/2024, anh Hồ Văn T5 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 233.000.000 đồng.
Ngày 27/4/2024, chị Nguyễn Thị H3 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng để phục vụ điều tra.
Ngày 29/4/2024, Lê Phương N1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone XS Max màu xanh để phục vụ điều tra.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định chiếc điện thoại Iphone XS Max của Ngô Quý K; giám định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của Nguyễn Văn T; giám định chiếc điện thoại Iphone XS Max; giám định chiếc điện thoại Iphone XS Max của Lê Phương N1. Kết quả giám định tìm thấy dữ liệu nội dung tin nhắn trao đổi liên quan đến việc cho vay lãi nặng như đã nêu ở trên.
Kết quả sao kê tài khoản Ngân hàng của Ngô Quý K, Nguyễn Văn T, Lê Phương N1 và chị Dư Thị Thu H2, về số tiền, thời gian các đối tượng chuyển tiền đúng như lời khai của các bị can và người có liên quan.
Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKS-P1 ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm s, i khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Ngô Quý K 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 điều 201; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 điều 201; Điều 36; điểm s, i khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Dương Quý N từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung Nguyễn Văn T và Dương Quý N mỗi bị cáo 30.000.000 đồng.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị truy thu số tiền 25.500.000 đồng của chị H2; tịch thu của chị H2 để sung quỹ nhà nước 493.151 đồng (làm tròn là 493.000 đồng) là tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với khoản tiền Kông cho chị H2 vay; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 4.500.000 đồng của Ngô Quý K là tiền Kông cắt lãi của chị H2. Trả lại chiếc điện thoại Iphone XS Max cho anh Lê Phương N1. Tịch thu, bán sung công quỹ Nhà nước điện thoại Iphone XS của Ngô Quý K và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của Nguyễn Văn T; trả lại 1.400.000 đồng cho Ngô Quý K nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 233.000.000 đồng là tiền mà Nguyễn Văn T đã chuyển vào tài khoản của anh T5 để cho anh T5 vay; Truy thu số tiền 67.000.000 đồng của 3 bị cáo Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N.
Các bị cáo không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Các bị cáo khai nhận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 28/3/2024 đến 26/4/2024, Ngô Quý K đã cho anh Hồ Văn T5 và chị Dư Thị Thu H2 vay tổng số tiền là 330.000000 đồng với lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày (tương đương 182,5%/năm), tổng số tiền K cắt lãi trước là 71.500.000 đồng, trong đó tổng số tiền thu lời bất chính là 63.609.589 đồng, tổng số tiền thu lãi theo quy định của BLDS (20%/năm) là 7.890.411 đồng. Trong tổng số tiền cho vay lãi nặng như nêu trên thì Ngô Quý K đã cùng với Nguyễn Văn T và Dương Quý N cho anh Hồ Văn T5 vay số tiền 300.000.000 đồng, cắt lãi trước 45 ngày với số tiền là 67.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lời bất chính là 59,602,740 đồng, tiền lãi theo quy định của BLDS (20%/năm) là 7.397.260 đồng.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi cho vay với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/01 ngày (tương đương 182.5%/năm) với số tiền thu lời bất chính là 63.609.589 đồng của Ngô Quý K, với số tiền thu lời bất chính là 59,602,740 đồng của Nguyễn Văn T và Dương Quý N đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng...thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”...
[4] Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh và trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ngô Quý K và Dương Quý N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Dương Quý N ra đầu thú, bị cáo Ngô Quý K xuất trình biên lai ủng hộ Hội chữ thập đỏ số tiền 1.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo không mang tính chất chuyên nghiệp, số tiền thu lợi bất chính không lớn nên cần xem xét áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ là hình phạt chính như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục cũng như răn đe, phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Quý K xuất trình tài liệu là Sổ tiết kiệm số dư 70.000.000 đồng tại Ngân hàng V1 chi nhánh V3. Xét thấy, bị cáo K được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có tài sản riêng nên cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Dương Quý N phạm tội với vai trò đồng phạm tích cực, thỏa thuận chia số tiền thu lời bất chính và đem xe ô tô của anh T5 đi kiểm tra số khung, số máy; bị cáo T có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt 1 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, ngoài ra, bị cáo còn trực tiếp dùng tiền của mình cho T5 vay lãi nặng nên cần phạt bị cáo N, T cải tạo không giam giữ mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, xác định các bị cáo N, T không có tài sản, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và số tiền liên quan trong vụ án.
- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent, BKS: 30H-842.56 là chiếc xe mà anh T5 cầm cố cho K, N, T để vay tiền. Chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh T5, vì vậy ngày 29/5/2024 Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho anh T5.
- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato màu đen, BKS: 22A-149.11, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của Ngô Quý K, K đã thế chấp mua trả góp tại ngân hàng Q1 chi nhánh H4, hiện Kông vẫn nợ tiền ngân hàng. Vì vậy, ngày 29/5/2024 Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho Ngô Quý K là hợp pháp.
- Đối với thẻ Căn cước công dân mang tên Ngô Quý K là giấy tờ cá nhân của K, không liên quan đến vụ án nên ngày 29/5/2024 Cơ quan điều tra đã trả cho Ngô Quý K là hợp pháp.
- Đối với 02 tờ giấy vay tiền theo mẫu in sẵn có chữ ký, chữ viết bên phần người vay “Dư Thị Thu H2”. Xác định đây là 02 tờ giấy mà chị H2 đã viết biên nhận để vay Kông tổng số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày, do vậy cần chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của chị Nguyễn Thị H3. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại trên được chị H3 sử dụng để nhắn tin, gọi điện cho Ngô Quý K liên hệ cầm cố xe ô tô vay tiền giúp anh T5, Cơ quan điều tra đã tạm giữ phục vụ giám định, đến nay đã có kết quả giám định, xác định chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của chị H3 nên ngày 27/8/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị H3.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của anh Hồ Văn T5, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh T5, nên ngày 29/5/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh T5 là hợp pháp.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng của Ngô Quý K, quá trình điều tra xác định K sử dụng để giao dịch cho vay lãi nặng, vì vậy cần tịch thu, bán sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên được T sử dụng để liên lạc khi thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, vì vậy cần tịch thu, bán sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Lê Phương N1. Kết quả điều tra xác định: Ngày 26/4/2024, N1 chuyển cho Nguyễn Văn T số tiền 150.000.000 đồng để chung tiền cho anh T5 vay với lãi suất 2.000đ/1 triệu/1 ngày, N1 không đồng phạm với K, T, N về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Chiếc điện thoại di động trên không phải là vật chứng của vụ án mà là tài sản hợp pháp của N1, vì vậy cần trả lại cho anh N1.
- Đối với số tiền 233.000.000 đồng là tiền mà Nguyễn Văn T đã chuyển vào tài khoản của anh T5 để cho anh T5 vay tiền. Xác định đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền: 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền lương của K được Trung tâm Y tế huyện T chi trả khi K còn làm việc tại Trung tâm được K mang theo để sử dụng chi tiêu cá nhân không liên quan đến số tiền Kông cho vay lãi nặng. Vì vậy cần trả lại số tiền trên cho K, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với số tiền 25.500.000 đồng Ngô Quý K cho chị Dư Thị Thu H2 vay, đây là số tiền sử dụng vào việc phạm tội nên cần truy thu của chị Dư Thị Thu H2 sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 493.151 đồng (làm tròn là 493.000 đồng) là tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với khoản tiền Kông cho chị H2 vay, chị H2 chưa trả lãi cho K nên cần truy thu của chị H2 để sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 4.500.000 đồng mà Ngô Quý K đã cắt lãi của chị Dư Thị Thu H2 là tiền sử dụng vào việc phạm ội nên cần truy thu của Ngô Quý K để sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 67.000.000 đồng mà Ngô Quý K cắt lãi của anh Hồ Văn T5 khi cho anh T5 vay tiền, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tôi nên cần truy thu của Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N sung công quỹ nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Dương Quý N, Nguyễn Văn T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự 2015.
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 201; Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời gian tạm giữ 09 ngày từ ngày 26/4/2024 đến 05/5/2024 (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) nên bị cáo T còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y nhận được quyết định thi hành án. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự.
Căn cứ khoản 1,3 Điều 201; Điều 36; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Dương Quý N 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ 09 ngày từ ngày 26/4/2024 đến 05/5/2024 (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) nên bị cáo N còn phải chấp hành 08 (Tám) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyên B nhận được quyết định thi hành án. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phạt tiền bị cáo Ngô Quý K 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, bán sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng của Ngô Quý K là phương tiện để giao dịch cho vay lãi nặng;
- Trả lại số tiền 1.400.000 đồng cho Ngô Quý K nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Tịch thu, bán sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của Nguyễn Văn T.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, có số IMEI 357266093143549 cho anh Lê Phương N1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 233.000.000 đồng;
- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 25.500.000đ của chị Dư Thị Thu H2 (là tiền sử dụng vào việc phạm tội).
- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 493.000 đồng của chị Dư Thị Thu H2.
- Truy thu của Ngô Quý K số tiền 4.500.000 đồng là tiền sử dụng vào việc phạm tội.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước của Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N (theo tỷ lệ chia đều) số tiền 67.000.000 đồng.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 15 tháng 10 năm 2024.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Quý N mỗi bị cáo 30.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Ngô Quý K, Nguyễn Văn T và Dương Quý N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự 2015.
