Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày 31-10-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Vũ Minh Đón

Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 31/10/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Thành N, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn S và con bà Nguyễn Thị X; vợ là Nguyễn Thị Tuyết C và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Bản án số 13/2020/HSST ngày 10/3/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt Vũ Thành N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội Tổ chức đánh bạc; tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 20/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

Bị hại: Công ty Cổ phần T7. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy T – Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Đặng Hồng N1 – Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền lại của bà N1: Bà Hoàng Thị Thùy D – Nhân viên hành chính nhân sự. Trú tại: TDP B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

Người làm chứng: Chị Đỗ Thị S1, anh Nguyễn Hải T1, chị Trương Thị P, anh Phạm Văn T2, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Xuân T3, anh Đoàn Văn C1, anh Nguyễn Hữu H1, anh Vũ Toàn A, anh Dương Văn H2, anh Nguyễn Đức T4, anh Giáp Văn M, chị Nguyễn Thị T5, anh Bùi Đình H3, chị Nguyễn Thị P1, anh Lưu Đức T6, ông Nguyễn Hải C2, bà Nguyễn Thị V, anh Trần Văn L1, anh Trương Văn K, anh Luyện Hải Đ, anh Đỗ Mạnh C3, ông Phạm Viết L2 và anh Lương Hoài N2. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần T7 (gọi tắt là Công ty T7) là doanh nghiệp ngoài nhà nước, có địa chỉ trụ sở: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần với mã số doanh nghiệp I; đăng ký lần đầu ngày 13/4/2011 và đăng ký thay đổi lần 6 ngày 14/10/2021; do ông Lương Duy T, sinh năm 1971 trú tại thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên là Chủ tịch Hội đồng quản trị; Ngày 02/01/2019 Hội đồng quản trị của Công ty T7 quyết định bổ nhiệm bà Đặng Hồng N1, sinh năm: 1985, trú tại: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên là Tổng giám đốc điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty. Từ ngày 09/7/2020 đến ngày 30/10/2022, Công ty T7 đã ký hợp đồng 12 tháng/01 lần đối với Vũ Thành N, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để thuê N làm nhân viên kinh doanh về dịch vụ nhà hàng ẩm thực của Công ty. Đến ngày 01/11/2022, Công ty T7 đã ký hợp đồng không thời hạn với N, giữ chức vụ là nhân viên kinh doanh về ẩm thực, có nhiệm vụ là tư vấn, giới thiệu và chăm sóc khách hàng nhằm đạt được mục tiêu tăng doanh thu và lợi nhuận cho Công ty theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo công ty; Tìm hiểu, nghiên cứu về các dịch vụ của Công ty để giới thiệu, tư vấn và giải đáp các thắc mắc cho khách hàng; Đàm phán, thương lượng với khách hàng về giá cả dịch vụ; Chăm sóc khách hàng và duy trì mối quan hệ với khách hàng; Tìm kiếm nguồn khách hàng mới, mở rộng phát triển quan hệ; Thu tiền đặt cọc, tiền ăn uống từ khách hàng và chịu trách nhiệm nộp lại số tiền thu về cho Công ty vào buổi sáng ngày hôm sau; thực hiện các công việc khác theo sự phân công của cấp trên. Do N được giao nhiệm vụ chăm sóc khách hàng nên N được phép thu tiền đặt cọc và tiền sử dụng dịch vụ nhà hàng của khách hoặc hướng dẫn khách hàng khi đến sử dụng những dịch vụ của Công ty khi trả tiền thì chuyển tiền đặt cọc và tiền dịch vụ vào tài khoản của Công ty H4 trực tiếp thu tiền, rồi nộp vào két một chiều của Công ty. Sau đó, đến sáng hôm sau thì chị Đỗ Thị S1, sinh năm: 1988, nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (là kế toán tổng hợp của Công ty) sẽ rút số tiền có trong két một chiều ra và nộp vào quỹ của Công ty. Đến ngày 20/4/2021, Vũ Thành N được Công ty T7 bổ nhiệm chức vụ Giám đốc thể thao, có nhiệm vụ điều hành các hoạt động của bộ phận thể thao theo yêu cầu của Hội đồng quản trị và pháp luật hiện hành. Ngoài ra, đối với dịch vụ sân bóng thì N được phép thu tiền của khách nhưng phải nộp lại cho Công ty vào sáng ngày hôm sau.

Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2023 đến ngày 02/02/2024, Vũ Thành N không hướng dẫn khách hàng chuyển số tiền sử dụng dịch vụ vào tài khoản ngân hàng của Công ty hoặc thanh toán tại quầy thu ngân mà N lại hướng dẫn khách hàng chuyển tiền vào tài khoản tại Ngân hàng Q, số 0001007398730 của N hoặc trực tiếp thu tiền mặt của khách nhưng không hoàn trả lại số tiền đã thu cho Công ty. Đến ngày 28/02/2024, Công ty T7 đã phát hiện và làm việc với N, thì N trình bày do chưa thu được tiền dịch vụ của khách hàng nên N chưa thanh toán cho Công ty. Công ty đã yêu cầu N cung cấp thông tin của những khách hàng đã sử dụng các dịch vụ của Công ty nhưng chưa thanh toán thì lúc này N mới thừa nhận từ ngày 24/8/2023 đến ngày 06/02/2024, N đã thu được tổng số tiền 284.512.908 đồng của các khách hàng đã sử dụng dịch vụ của Công ty nhưng N đã chiếm đoạt và sử dụng hết vào mục đích tiêu sài cá nhân.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được N đã tham ô chiếm đoạt của Công ty T7 tổng số tiền: 256.650.708 đồng. Trong đó, số tiền N tham ô chiếm đoạt trong lĩnh vực kinh doanh Nhà hàng là 222.350.708 đồng; Số tiền N tham ô chiếm đoạt trong dịch vụ sân bóng là 34.300.000 đồng, cụ thể như sau:

  1. Về lĩnh vực Nhà hàng:
    1. Ngày 24/8/2023, anh Nguyễn Hải C2, sinh năm: 1973 ở thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên đặt tiệc ăn tối tại nhà hàng của Công ty T7, tại đây anh C2 sau khi thống nhất với N sử dụng dịch vụ Nhà hàng hết 44.262.000 đồng, N hướng dẫn anh C2 đặt cọc trước số tiền 14.262.000 đồng vào tài khoản (Q) của N, anh C2 đã chuyển toàn bộ giá trị sử dụng dịch vụ 44.262.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng Q số 0983918200 của anh C2 đến số tài khoản trên của N. Sau đó, N đã thanh toán cho Công ty T7 số tiền 30.000.000 đồng, còn lại 14.262.000 đồng, N không thanh toán trả lại công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    2. Ngày 12/10/2023, anh Nguyễn Hải T1, sinh năm: 1981, trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn trưa), ăn xong thì anh T1 đã được N hướng dẫn thanh toán bằng hình thức chuyển khoản số tiền là 4.980.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 số: [...] của anh T1 đến số tài khoản trên của N. Sau đó N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    3. Ngày 17/10/2023, chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1990, trú tại: thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn tối), ăn xong thì chị P1 đã được N hướng dẫn thanh toán tổng số tiền ăn là 3.255.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V2 0591000363228 của chị P1 đến số tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán trả tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    4. Ngày 01/11/2023, chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1994, trú tại: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn trưa), ăn xong thì chị T5 đã được N hướng dẫn thanh toán bằng hình thức chuyển khoản số tiền là 13.371.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V2 số: 1034798265 của chị T5 đến số tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    5. Ngày 20/11/2023 anh Dương Văn H2, sinh năm: 1982, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn tối), sau khi sử dụng dịch vụ xong thì anh H2 đã thanh toán tổng số tiền ăn là 14.455.000 đồng, trong đó có 4.455.000 đồng anh H2 thanh toán bằng tiền mặt, còn số tiền 10.000.000 đồng anh H2 chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng N3 số 03888010686666 của vợ anh H2 đến số tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    6. Ngày 28/11/2023 và ngày 29/11/2023, ông Phạm Viết L2, sinh năm 1954 ở tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn và uống cà phê). Khi đến đặt bàn ăn ông L2 được N hướng dẫn chuyển khoản tiền cọc cho dịch vụ 20.000.000 đồng đến tài khoản của N. Ông L2 sử dụng tài khoản ngân hàng S2 số 2332336688 của mình chuyển 20.000.000 đồng đến tài khoản trên của N theo hướng dẫn. Tổng số tiền ông L2 sử dụng dịch vụ tại nhà hàng là 74.880.000 đồng. Ông L2 cũng đã chuyển khoản đủ cho N số tiền trên. Sau đó N chỉ thanh toán cho Công ty số tiền 31.031.500đ, còn lại số tiền 43.848.500 đồng N đã chiếm đoạt.
    7. Ngày 06/12/2023, anh Đoàn Văn C1, sinh năm 1990, trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương sử dụng dịch vụ nhà hàng và sân bóng. Khi đến đặt bàn ăn thì anh C1 sử dụng tài khoản VIETTELPAY số 9704229295990258 của anh C1 chuyển số tiền 1.500.000 đồng đến tài khoản trên của N tiền đặt cọc. Sau khi sử dụng dịch vụ xong, đến ngày 16/12/2023, anh C1 tiếp tục chuyển số tiền 20.979.000đ đến tài khoản trên của N. Tổng số tiền N đã thu được của anh C1 là 22.479.000đ. Sau đó N chỉ thanh toán cho Công ty số tiền 14.840.340đ tiền mặt, còn lại số tiền 7.638.660 đồng N đã chiếm đoạt.
    8. Ngày 22/12/2023, chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, trú tại: tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn tối), sau khi sử dụng dịch vụ xong thì chị H đã được Nam hướng dẫn thanh toán tổng số tiền ăn là 3.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V3 số [...] của chị H đến số tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    9. Ngày 05/01/2024 chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1975 ở thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn tối), chị V đã thanh toán tổng số tiền ăn là 35.000.000đ từ tài khoản ngân hàng B số 2600330845 của chị V đến số tài khoản của N. Ngày 13/01/2024, chị V tiếp tục sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn tối), sau đó chị V tiếp tục thanh toán vào tài khoản của N là 49.000.000đ. Tổng số tiền N đã thu được của chị V là 84.000.000 đồng nhưng chỉ thanh toán cho Công ty số tiền 49.145.400đ, còn lại số tiền 34.854.600 đồng N đã chiếm đoạt.
    10. Ngày 08/01/2024, chị Trương Thị P2, sinh năm 1995, ở thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn tối). Sau khi sử dụng dịch vụ xong đến ngày 19/01/2024, chị P2 đã thanh toán tổng số tiền ăn là 35.705.448 đồng từ tài khoản ngân hàng Q số 2750103340008 và số 0988819895 của chị P2 đến số tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    11. Ngày 17/01/2024, anh Nguyễn Đức T4, sinh năm: 1992, nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến Công ty cổ phần T7 để đặt dịch vụ nhà hàng. N yêu cầu anh T4 đặt cọc số tiền 10.000.000đ. Anh T4 đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng B số tài khoản 4660586718 của anh T4 chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến số tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    12. Ngày 19/01/2024, chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1993, ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đến Công ty cổ phần T7 để đặt dịch vụ nhà hàng, Vũ Thành N đã yêu cầu chị L đặt cọc số tiền 5.000.000đ, Chị L đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng T8 số 19032816975018 của chị L chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản trên của N nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    13. Ngày 22/01/2024, anh Giáp Văn M, sinh năm 1988, ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang sử dụng dịch vụ Nhà hàng (ăn uống). N yêu cầu anh M đặt cọc số tiền 8.000.000đ, anh M trả tiền mặt cho N là 5.000.000đ và sử dụng tài khoản ngân hàng V4 số [...] của anh M chuyển khoản 3.000.000đ đến số tài khoản trên của N. N không thanh toán trả công ty mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền 8.000.000 đồng
    14. Ngày 26/01/2024, anh Đỗ Mạnh C3, sinh năm 1981, ở Chung cư G, phường G, quận L, thành phố Hà Nội đến Công ty T7 gặp N để đặt dịch vụ nhà hàng. Sau đó N yêu cầu anh C3 đặt cọc số tiền 3.000.000đ. Anh C3 sử dụng tài khoản ngân hàng B số: 1240244110 của anh C3 chuyển 3.000.000đ đến tài khoản của N. N không thanh toán trả Công ty mà chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng.
    15. Ngày 18/01/2024, anh Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1988, ở thôn D, xã P, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh sử dụng dịch vụ ăn uống tại nhà hàng.Sau đó đến ngày 29/01/2024 anh T3 chuyển tổng số tiền là 15.980.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V5 số [...] đến tài khoản của N nhưng N không thanh toán cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    16. Ngày 04/02/2024, anh Luyện Hải Đ, sinh năm 1998, ở thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ nhà hàng (ăn tối). Sau đó N yêu cầu anh Đ đặt cọc số tiền 2.000.000đ, anh Đ đã chuyển khoản từ ngân hàng V2 số 0591000332120 của mình chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản của N nhưng N không thanh toán cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    17. Sáng ngày 06/02/2024, anh Lưu Đức T6, sinh năm 1980, ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ ăn uống tại nhà hàng. Sau đó N yêu cầu anh T6 đặt cọc số tiền 3.000.000đ, anh T6 đưa cho N 3.000.000 đồng tiền mặt, nhưng N không thanh toán cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.

    Tổng số tiền Vũ Thành N đã chiếm đoạt của Công ty thông qua việc khách hàng trả tiền ăn uống là 222.350.708 đồng.

  2. Về dịch vụ sân bóng:
    1. Vào tháng 9 năm 2023, anh Bùi Đình H3, sinh năm: 1988, ở tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ sân bóng (04 trận) với giá tiền 500.000 đồng/1 trận, anh H3 đã đưa 2.000.000 đồng tiền mặt cho N. N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    2. Ngày 07/10/2023, anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1991, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ sân bóng 01 trận với giá tiền 400.000 đồng/1 trận, anh H1 đã đưa trực tiếp số tiền 800.000 đồng cho N nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    3. Ngày 02/11/2023, anh Phạm Văn T2, sinh năm: 1990, ở thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đến Công ty T7 gặp Vũ Thành N để đặt dịch vụ sân bóng số lượng là 40 trận với giá 500.000đ/1 trận. Sau đó đến ngày 30/11/2023, N có tổ chức giải bóng đá và mời đội bóng FC Phố huyện của anh T2 tham gia với kinh phí đóng góp là 1.500.000 đồng nhưng sau đó đội bóng của anh T2 vì lý do khách quan đã không tham gia giải bóng đá trên. Anh T2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng V2 số: 9943356335 của anh T2 chuyển tổng số tiền 21.500.000 đồng nhưng N không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    4. Vào tháng 11 năm 2023, anh Lương Hoài N2, sinh năm 1979, ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ sân bóng (03 trận) với giá tiền 500.000 đồng/1 trận, anh Hoài N2 đã trả 1.500.000 đồng tiền mặt cho N2 nhưng N2 không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    5. Ngày 06/11/2023, anh Vũ Toàn A (tên gọi khác là ĐI), sinh năm: 1995, ở thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ sân bóng (08 trận) với giá tiền 500.000 đồng/1 trận, anh Toàn A đã đưa cho N2 4.000.000 đồng tiền mặt nhưng N2 không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    6. Ngày 17/12/2024, anh Trương Văn K, sinh năm 1995, ở thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ sân bóng (04 trận) với giá tiền 500.000 đồng/1 trận, anh K đã trả tiền mặt cho N2 2.000.000 đồng nhưng N2 không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.
    7. Ngày 28/11/2023, anh Trần Văn L1, sinh năm 2001, ở thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sử dụng dịch vụ sân bóng (05 trận) với giá tiền 500.000 đồng/1 trận, anh L1 đã trả tiền mặt cho N2 là 2.500.000 đồng nhưng N2 không thanh toán tiền cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên.

Tổng số tiền Vũ Thành N đã chiếm đoạt của Công ty thông qua việc khách hàng trả tiền dịch vụ thuê sân bóng là 34.300.000 đồng.

Tiến hành khám xét nơi ở của Vũ Thành N không thu giữ được đồ vật gì.

Đối với số tiền 27.466.000 đồng. Vũ Thành N khai nhận chiếm đoạt của Công ty T7. Trong đó số tiền dịch vụ nhà hàng là 13.093.500 đồng (ngày 19/11/2023 nhận dịch vụ 7.262.500 đồng; ngày 26/01/2024 nhận dịch vụ là 5.831.000 đồng); số tiền dịch vụ sân bóng là 14.372.500 đồng, N không nhớ nhận dịch vụ của ai, Công ty T7 không cung cấp được những hoá đơn, chứng từ liên quan đến những dịch vụ nêu trên nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/9/2023, đại diện gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường số tiền 256.650.708 đồng cho Công ty T7. Công ty T7 không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự đối với N.

Quá trình điều tra Vũ Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 121/CT-VKS-YM ngày 10/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Vũ Thành N về tội Tham ô tài sản theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Vũ Thành N phạm tội Tham ô tài sản. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành N từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 10/3/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên, buộc bị cáo phải chấp hành chung cả hai bản án là 11 năm tù đến 11 năm 06 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/6/2019 đến ngày 08/8/2019, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/5/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản xác nhận nợ với công ty T7 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vũ Thành N là nhân viên bộ phận kinh doanh, kiêm Giám đốc thể thao của Công ty T7 có địa chỉ ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, được giao quản lý việc chăm sóc khách hàng, thu tiền cọc, tiền ăn uống, tiền thuê dịch vụ sân bóng từ khách hàng. Trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2023 đến 04/02/2024, N đã nhiều lần thu tiền từ khách hàng nhưng không trả Công ty T7 mà chiếm đoạt tổng số 256.650.708 đồng để tiêu xài cá nhân.

Bị cáo Vũ Thành N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Mặc dù, Công ty T7 là doanh nghiệp ngoài Nhà nước nhưng theo quy định tại khoản 6 Điều 353 Bộ luật hình sự bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội Tham ô tài sản. Trong khoảng thời gian hơn 5 tháng bị cáo đã có 22 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tổng số tiền là 256.650.708 đồng nên bị cáo phải chịu hai tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là Phạm tội 02 lần trở lên” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Vũ Thành N về tội Tham ô tài sản theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Việc áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cần thiết để giáo dục bị cáo, đồng thời là bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại; bị cáo được C4 tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lao động giỏi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm trách nhiệm hình quy định tại b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về hành vi Tổ chức đánh bạc, chưa xoá án tích mà lại thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, phạm tội do cố ý. Do vậy, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Quyết định hình phạt:

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Ngoài hình phạt tại bản án này, bị cáo còn bị tổng hợp hình phạt 03 năm tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 10/3/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án theo Điều 56 Bộ luật hình sự.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/9/2024, đại diện gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường số tiền 256.650.708 đồng cho Công ty T7. Công ty T7 đã nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo N nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thành N phạm tội Tham ô tài sản.
  3. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành N 08 năm tù.

    Tổng hợp hình phạt 03 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 10/3/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên, buộc bị cáo phải chấp hành chung cả hai bản án là 11 năm tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/6/2019 đến ngày 08/8/2019, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/5/2024.

  4. Về án phí: Bị cáo Vũ Thành N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Y;
  • - Công an huyện Y;
  • - Chi cục THA DS huyện Y;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về tham ô tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger