TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 121/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Kháng;
- Bà Nguyên Thị Ngà.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXX-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Lò Văn C, sinh năm 1982.
Nơi sinh và nơi cứ trú: Bản H, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 01/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn S ( đã chết) và bà Lô Thị X; Vợ: Lường Thị N ( đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Cương bị tạm giữ ngày 02/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 05/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C: Bà Vương Thị Thanh N1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.
Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Lò Văn N2, sinh năm 1989
Địa chỉ: Bản K, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La
Vắng mặt.
Người làm chứng:
Bà Đinh Thị M, sinh năm 1955
Anh Đinh Việt T, sinh năm 2000
Đều có địa chỉ: thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1981
Địa chỉ: Bản T, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn C, sinh năm 1982 ở bản H, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Cương đến huyện V làm thuê tự do và thuê phòng trọ trong khu nhà trọ của gia đình bà Đinh Thị M tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên để ở.
Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 09 giờ ngày 02/6/2024, C đi bộ từ phòng trọ ra khu vực bãi đất trống ở thôn M, thị trấn N, huyện V tìm mua ma túy vì C biết tại khu vực này có nam thanh niên bán ma túy, mục đích C tìm mua để về bán cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời. Khi đến nơi, C thấy một người nam giới, khoảng 40 tuổi, mặc quần áo cộc màu đen, đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu trang đang đứng một mình, C đi lại gần hỏi người này có bán ma túy không, người đàn ông trả lời có. C hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy loại Heroin thì người đàn ông đưa cho C 02 gói giấy có dòng kẻ màu trắng, bên trong đều chứa ma túy, loại Heroine, C nhận ma túy rồi đưa lại cho người đàn ông số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất 02 gói ma túy vào trong chiếc mũ lưỡi trai, màu nâu, trên mũ có chữ D rồi đi về phòng trọ. Khi C đang đi ở đường T thì gặp bạn là Lò Văn N2, sinh năm 1989 ở bản K, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. C biết N2 nghiện ma túy nên bảo N2 là C đang có ma túy, loại Heroine, nếu N2 mua thì đến phòng trọ của C, C sẽ bán cho, N2 đồng ý rồi bảo một lát nữa sẽ đến. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, C về đến phòng trọ, C treo chiếc mũ lưỡi trai bên trong đựng ma túy tại tay lái bên phải chiếc xe mô tô kiểu dáng Yamaha, màu xanh, biển số 26AA-002.98 Cương đang dựng trước cửa phòng trọ. Khoảng 05 phút sau thì N2 đi bộ đến phòng trọ của C. N2 hỏi mua 100.000 đồng tiền ma túy, loại Heroine thì C đồng ý bán. C đi ra xe mô tô dựng ở trước cửa phòng trọ lấy từ trong chiếc mũ lưỡi trai 01 gói ma túy, loại H mang vào trong phòng đưa cho N2. N2 cầm gói ma túy đồng thời đưa trả C số tiền 100.000 đồng rồi đi ra ngoài cổng sử dụng hết bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể. Khi N2 vừa sử dụng xong ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện V kiểm tra hành chính. N2 khai nhận nguồn gốc ma túy N2 vừa sử dụng là mua tại phòng trọ của C. Tổ công tác Công an huyện V đã đưa N2 vào khu nhà trọ của bà M, N2 đã chỉ đúng phòng trọ số 02 của Cương thì phát hiện C đang ngồi trên chiếc xe mô tô Yamaha, màu xanh, biển số 26AA-002.98 trước cửa phòng trọ. Công an huyện V đã tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh, biển số 26AA-002.98 tại tay lái bên phải chiếc xe mô tô trên có treo 01 chiếc mũ lưỡi trai, màu nâu, trên mũ có chữ D, bên trong mũ có: 01 gói giấy dòng kẻ màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, bột, C khai nhận là ma túy, loại Heroine Cương cất ở đó để bán (niêm phong ký hiệu “M”). T2 tại túi quần phía trước bên phải chiếc quần soóc, màu đen C đang mặc số tiền 1.550.000 đồng.
Ngày 02/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn C tại thôn M, thị trấn N, huyện V. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết quả test ma túy đối với C cho kết quả dương tính với ma túy loại M1 và H1.
Tại Bản thông báo kết luận sơ bộ số: 402/KL-KTHS(MT) ngày 02/6/2024 và Kết luận giám định ngày 05/6/2024 của phòng K Công an tỉnh H, kết luận: “Chất màu trắng dạng cục và bột, trong niêm phong ghi ký hiệu “M”, có tổng khối lượng là 0,147g (Không phẩy một bốn bẩy gam), là ma tuý, loại Heroine”.
Quá trình điều tra xác định: Đối với 01 phong bì thư hoàn lại mẫu vật sau giám định số 402/KL-KTHS(MT) của phòng K Công an tỉnh H; 01 chiếc mũ lưỡi trai, màu nâu, trên mũ có chữ Dior thu giữ của Lò Văn C là vật chứng của vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã nhập Kho vật chứng của Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 26AA-002.98, đăng ký magn tên chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1981 ở bản T, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La. Năm 2018 chị T1 bán chiếc xe mô tô trên cho Lò Văn C với giá 10.000.000 đồng. Sau khi mua xe C không làm thủ tục sang tên và sử dụng chiếc xe để làm phương tiện đi lại hàng ngày. Cơ quan điều tra đã nhập Kho vật chứng của Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định.
Đối với số tiền 1.550.000 đồng thu giữ của Lò Văn C, C khai nhận trong số tiền trên có 100.000 đồng là tiền bán ma túy cho Lò Văn N2 mà có, còn số tiền 1.450.000 đồng do lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V tại Kho bạc Nhà nước huyện V để chờ xử lý theo quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn N2 chưa đến mức phải xử lý hình sự, Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với đối tượng C khai đã bán trái phép ma túy cho C tại thôn M, thị trấn N, huyện V, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ giải quyết sau.
Bị cáo Lò Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thu thập được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo xác định tàng trữ Heroin nhằm mục đích bán kiếm lời.
Bản cáo trạng số 121/CT-VKS, ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà; Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời gian tù tính từ ngày 02/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 402/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,137g ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ lưỡi trai màu nâu, trên mũ có chữ DIOR
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng tiền bị cáo bán ma túy cho N2.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.450.000 đồng
Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển số 26AA-002.98 đăng ký mang tên Hoàng Thị T1.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm như sau: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thái độ ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn nộp tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, tại khu nhà trọ của bà Đinh Thị M ở thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn C đang thực hiện hành vi tràng trữ 0,147g ma tuý, loại Heroin nhằm mục đích bán trái phép thì bị Công an huyện V phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các chất ma túy nói chung và H1 nói riêng là mặt hàng Nhà nước cấm mua bán lưu thông trên thị trường, nhưng do bị cáo coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lời bất chính. Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe của con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh, kịp thời trước pháp cần thiết nhằm mục đích cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 402/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,137g ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H tịch thu cho tiêu hủy.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ lưỡi trai màu nâu, trên mũ có chữ DIOR
- Đối với số tiền 1.550.000 đồng Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo trong đó có 100.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước, còn số tiền 1.450.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển số 26AA-002.98 đăng ký mang tên Hoàng Thị T1.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn N2; Cơ quan Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.
Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho C trại thôn M, thị trấn N; Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 46; khoản 1 và khoản 2 Điều 47; Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn C 02 ( hai) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 02/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 402/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,137g ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H và 01 chiếc mũ lưỡi trai màu nâu, trên mũ có chữ DIOR
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng ( một trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lò Văn C.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.450.000 đồng ( một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển số 26AA-002.98 đăng ký mang tên Hoàng Thị T1.
( Số tiền hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1051239.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm tại Kho bạc Nhà nước huyện V).
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)
Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lò Văn C.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Vân Anh |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự)
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
