Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên

Ông Tẩn Cao Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TSST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Mào Thị S; sinh ngày: 01/01/1967, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Hợp 1, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mào Văn P (đã chết); Con bà: Lù Thị N (đã chết); Chồng: Lò Văn K (đã chết); Con: bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1985; con nhỏ nhất sinh năm 1999;

Tiền án: có 01 tiền án tại Bản án số 85/2021/HS-ST ngày 20/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Mào Thị S 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2024, hiện chưa xóa án tích.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 bị cáo được chuyển xuống nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vàng Văn N1; sinh ngày: 10/3/1990, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Hợp 1, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Văn P1, sinh năm1966; Con bà: Lò Thị T, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 bị cáo được chuyển xuống nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ, ngày 16/6/2024, Mào Thị S, trú tại bản Hợp 1, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu đi ra bờ ao gần nhà mình để cắt cỏ cho cá thì gặp một người đàn ông dân tộc Dao, S không rõ lai lịch, đang sử dụng Heroine, bên cạnh người đàn ông đó có để 01 gói Heroine. Do bản thân Sinh đang bị u tuyến giáp và nghe mọi người nói dùng Heroine chữa được bệnh của S, nên S đã mua 01 gói Heroine của người đàn ông trên với giá 50.000 đồng để về chữa bệnh. Sau khi mua được, S mang gói Heroine về nhà lấy một ít để sử dụng bằng hình thức hít, số H1 còn lại Sinh cất giấu trong gốc cây cách nhà khoảng 5m.

Đến khoảng 19 giờ, ngày 17/6/2024, trong lúc S đang ở nhà thì có Vàng Văn N1 ở cùng bản đến hỏi mua Heroine của S để sử dụng. Nhâm lấy tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho S, S nhận tiền rồi lấy gói Heroine cất giấu ở gốc cây gần nhà bán cho N1. N1 cầm gói H1 đi về nhà và lấy ra một ít sử dụng trước bằng hình thức hít, số Heroine còn lại Nhâm cất giấu ở đầu giường ngủ của gia đình và không cho ai biết. Đến 06 giờ 10 phút, ngày 18/6/2024 khi Vàng Văn N1 đang ở nhà thuộc bản Hợp 1, xã B, huyện P thì bị Công an xã B phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ của N1 là 01 gói Heroine, 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa màu đỏ. Căn cứ lời khai của Vàng Văn N1, cùng ngày Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mào Thị S, trước khi khám xét S tự giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng do bán Heroine cho N1 mà có. Tại Cơ quan điều tra Mào Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của Vàng Văn N1 và vật chứng thu giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 49, ngày 18/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu đỏ thu giữ của Vàng Văn N1 là 0,155 gam; Bản Kết luận giám định số 797 ngày 19/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 798 ngày 19/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Ngày 22/6/2024, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra cho Mào Thị S, Vàng Văn N1 thực nghiệm lại hành vi mua bán trái phép chất ma túy, kết quả: Sinh và N1 đã diễn lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra. Ngày 24/6/2024, Cơ quan điều tra cho Mào Thị S nhận dạng qua ảnh người mua Heroine đồng thời cho Vàng Văn N1 nhận dạng qua ảnh người bán Heroine, kết quả: Sinh nhận dạng đúng Vàng Văn N1 là người đã mua Heroine của S và N1 cũng nhận dạng đúng Mào Thị S là người đã bán Heroine cho N1.

Cáo trạng số: 74/CT-VKS, ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố Mào Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Vàng Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mào Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Vàng Văn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo S và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N1; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho cả 2 bị cáo S và N1, áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N1; bị cáo N1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo S có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mào Thị S 02 năm 04 tháng đến 02 năm 07 tháng tù; bị cáo Vàng Văn N1 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự và đề nghị xử lý án phí theo quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,085 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong đã mở; 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa màu đỏ; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng do bị cáo S bán Heroine cho bị cáo N1 mà có.

Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo và cho rằng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo nhận tội, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, thuộc hộ nghèo, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cũng như án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tranh luận, đối đáp lại như sau: Đối với quan điểm của người bào chữa về việc cho các bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, kiểm sát viên không nhất trí với lý do căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi và khối lượng Heroine thu giữ của các bị cáo, cho nên Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Mào Thị S và Vàng Văn N1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và không có ý kiến, khiếu nại về cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cũng như không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Tại lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, thể hiện: Vào khoảng 19, giờ ngày 17/6/2024, tại bản Hợp 1, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, Mào Thị S đã bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,155 gam cho Vàng Văn N1 lấy số tiền 100.000 đồng. Đến 06 giờ 10 phút, ngày 18/6/2024, Vàng Văn N1 bị Công an xã B phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại nhà riêng của N1 01 gói Heroine Nhâm mua của S để sử dụng. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mào Thị S, thu giữ số tiền 100.000 đồng do S bán Heroine cho N1 mà có.

Đối với 0,155 gam Heroine thu giữ của Vàng Văn N1, Cơ quan điều tra đã trích 0,07 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật). Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,085 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong đã mở; 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa màu đỏ và số tiền 100.000 đồng do S bán Heroine cho N1 mà có.

Các bị cáo Mào Thị S và Vàng Văn N1 đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy và bán kiếm lời từ Heroine, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo trước pháp luật. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện tội phạm độc lập, nhưng có sự thống nhất về hành vi và đồng thuận ý chí liên quan đến nhau. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của các bị cáo Mào Thị S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo Vàng Văn N1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Về nhân thân: bị cáo N1 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo S có 01 tiền án về tội ma túy, chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội về ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, mặt khác các bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử cần quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,085 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong đã mở; 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa màu đỏ. Xét thấy, vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, lưu hành là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy và tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng do S bán Heroine cho N1 mà có.

[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về quan điểm xử lý vụ án tại phiên tòa là có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Riêng việc đề xuất áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần, còn việc đề xuất áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Vàng Văn N1, giống như quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử không chấp nhận, bởi lẽ việc bị cáo N1 bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép Heroine, việc Cơ quan điều tra xác minh nguồn gốc số Heroine mà bị cáo N1 khai là tàng trữ để sử dụng có nguồn gốc từ đâu, có đúng là tàng trữ để sử dụng hay còn mục đích nào khác, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khi bắt quả tang đối với bị cáo S, cũng như qua lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và đã xác minh được đối tượng bán Heroine cho bị cáo N1 là bị cáo S, việc bị cáo N1 khi bị bắt đã trình bày, khai báo về nguồn gốc số Heroine bị cáo mua được từ đâu chỉ là thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của bị cáo và trên cơ sở đó Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra ra người đã bán H1 cho bị cáo N1 để tiến hành bắt giữ, khám xét thu giữ thêm vật chứng, qua đó mới xác minh làm rõ được lời khai của bị cáo N1 có thật sự trung thực, thành khẩn và thật thà hay không, đó cũng là căn cứ để xác định chính xác tội danh đối với bị cáo N1 và S và làm căn cứ để xem xét khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo ở điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, chứ đây không phải là hành vi giúp đỡ, hỗ trợ Cơ quan điều tra phát hiện ra tội phạm mới hay đồng phạm khác trong vụ án như đại diện Viện kiểm sát đã ý kiến.

[7] Những nội dung khác trong vụ án: Về nguồn gốc ma túy bị cáo Mào Thị S khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ.

[8] Về án phí: Tại phiên tòa, các bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy, các bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Quyết định số: Quyết định số: 861/QĐ-TTg, ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mào Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Vàng Văn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mào Thị S và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Văn N1; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với cả 2 bị cáo S và N1. Xử phạt bị cáo Mào Thị S 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù; bị cáo Vàng Văn N1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024 đối với cả hai bị cáo. Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
  2. Về vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,085 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong đã mở; 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa màu đỏ; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000 đồng.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi ....giờ 00 phút ngày ...../9/2024 giữa Công an huyện P, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người bào chữa được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Công an huyện Phong Thổ (CQCSĐT và THAHS); Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger