Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày 14-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương

Ông Hoàng Minh Trinh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình- Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 và 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024; Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 69/TB-TA ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/HSST-QĐ ngày 06/9/2024 đối với các bị cáo:

1. VÕ THỊ L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 05/6/1978 tại tỉnh Thừa Thiên - Huế; Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố H, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên - Huế; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Võ L1 (sinh năm 1943) và bà Trần Thị L2 (sinh năm 1952) đều còn sống; Bị cáo có 03 con (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2009); Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án số 05/2014/HSST ngày 20.02.2014 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt Lành 09 tháng tù về tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999.
  • Bản án số 09/2020/HSST ngày 27.4.2020 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt Lành 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trải phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, chấp hành án xong ngày 04.6.2021 (tính đến ngày 04.6.2023 đương nhiên được xoá án tích theo điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự).
  • Quyết định số 24 ngày 14.6.2017 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L trong thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2024. Có mặt tại phiên tòa.

2. NGUYỄN ĐÌNH K, tên gọi khác: Một; Giới tính: Nam. Sinh ngày 02/9/1991 tại Thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xac H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Đình T (sinh năm 1963, đã chết) và bà Trịnh Thị Ngọc C (sinh năm 1967); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02.

Tiền án:

  • Bản án số 09/2014/HSST ngày 22.3.2014 của TAND quae, 108 - Đà Nẵng xử phạt K 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999.
  • Bản án số 127/2016/HSST ngày 12.12.2016 của TAND quận Hải Châu, TP . xử phạt K 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999.
  • Bản án số 58/2019/HSST ngày 16.10.2019 của TAND huyện Hòa Vang, TP . xử phạt K 03 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành án xong ngày 23.9.2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án số 152/2009/HSPT ngày 01.7.2009 của TAND TP. Đà Nẵng xử phạt K 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999.
  • Bản án số 259/2010/HSPT ngày 22.3.2014 của TAND TP. Đà Nẵng xử phạt K 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999.
  • Quyết định số 2286 ngày 28.3.2012 của U tập trung K vào Trung tâm G để quản lý, cai nghiện và giáo dục, dạy nghề, thời hạn 03 tháng.

Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2024. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Nhất P, sinh năm 1991; Địa chỉ: H M, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Trương Quang V, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  3. Ông Lê Thành T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: A đường M, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  4. Ông Hứa Minh Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: G đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1958; Địa chỉ: K đường H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị L và Nguyễn Đình K có mối quan hệ tình cảm với nhau. Vào khoảng 06 giờ ngày 25.9.2023, L điện thoại rủ K đi uống cà phê tại quán cà phê số B P, thành phố Đà Nẵng. Trong lúc ngồi uống cà phê thì có một người dùng số điện thoại 0877.633.xxx gọi cho K hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, K đồng ý bán và nói cho L biết, đồng thời hẹn người mua đến quán C2 P, thành phố Đà Nẵng để giao dịch. Khoảng 15 phút sau, người mua ma túy gọi lại nói xe hết xăng nên K điều khiển xe mô tô biển số 43H1-120.10 chở L đến trước quán C đường N, phường H, quận H đợi người mua ma túy đến, còn K về nhà tại chung cư N đường N để lấy nỏ đi sử dụng ma túy đá. Khi K điều khiển xe quay về nơi L đứng đợi thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận H kiểm tra, L vứt ma túy xuống đất thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

  • Tại vị trí Lành đang đứng: 01 khẩu trang màu trắng bên trong có 01 gói ni lông màu trắng, kích thước (4,5x4)cm, chứa tinh thể rắn màu trắng và 01 khẩu trang màu trắng bên trong có 01 gói ni lông màu trắng có dán băng keo màu cam, kích thước (3x4)cm, chứa tinh thể rắn màu trắng. Các gói ni lông chứa tinh thể rắn màu trắng nói trên được niêm phong, ký hiệu “A”; 02 khẩu trang màu trắng được niêm phong ký hiệu “A1”.
  • Trong túi áo khoác phía trước bên trái của K: 01 nắp chai nhựa màu đỏ được đục lỗ, trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tỉnh và 01 ống hút bằng nhựa màu trắng - xanh.
  • 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung, số imei 1: 352117132767423, số imei 2: 358372942767428, gắn sim số 0796.593.851 (của K).
  • 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, số imei 1: 869874044608790, số imei 2: 869874044608782, gắn sim số 0345.906.765 (của L).
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 43H1-120.10.

Theo Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 03.10.2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu A: 3,154 gam.

Kết quả điều tra xác định K và L đã bán ma túy cho các đối tượng cụ thể như sau:

1. Võ Nhất P liên hệ K để mua ma túy qua tài khoản Zalo "Khanhnguyen” có số điện thoại là 0796.593.xxx của K, K hẹn giao ma túy tại nhiều địa điểm khác nhau, P trả tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng TMCP Q (MB) số 0796593851 của K, mỗi lần mua từ 300.000 đồng đến 800.000 đồng. P đã mua ma túy đá của K 06 lần, cụ thể:

  • Lần 01: Vào ngày 04.9.2023, P mua 800.000 đồng ma túy đá, K giao ma túy cho P ở gần chợ Đ1, thành phố Đà Nẵng, P chuyển khoản cho K 800.000 đồng.
  • Lần 02: Vào ngày 09.9.2023, P mua 300.000 đồng ma túy đá, K giao ma túy cho P ở gần chợ Đ1, thành phố Đà Nẵng, P chuyển khoản cho K 300.000 đồng.
  • Lần 03: Vào ngày 12.9.2023, P mua 800.000 đồng ma túy đá, K giao ma túy cho P ở gần chợ Đ1, thành phố Đà Nẵng, P chuyển khoản cho K 800.000 đồng.
  • Lần 04: Vào ngày 13.9.2023, P mua 300.000 đồng ma túy đá, K giao ma túy cho P ở gần chợ Đ1, thành phố Đà Nẵng, P chuyển khoản cho K 300.000 đồng.
  • Lần 05: Vào khoảng 21 giờ 00 ngày 20.9.2023, P mua 500.000 đồng ma túy đá và nói là ngày mai sẽ trả tiền sau thì K đồng ý. K giao ma túy cho P ở gần cây xăng trên đường Đ, TP .. Đến ngày 21.9.2023, P chuyển khoản cho K 500.000 đồng.
  • Lần 06: Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 24.9.2023, P mua 500.000 đồng ma túy đá và nói là ngày mai sẽ trả tiền sau thì K đồng ý và hẹn giao ma túy tại cây xăng trên đường Đ, TP .. Sau đó, P có việc nên hẹn K đến giao ma túy tại nhà P tại số H đường M, phường T, quận H, TP .. K đi cùng L đến nhà P và để 01 gói ma túy trên bàn trong phòng khách cho P, P thấy L cầm 01 gói ma túy đá bỏ vào một khẩu trang màu trắng và cuộn lại bỏ vào trong túi áo khoác. Sau đó, K và L ra về. Đến ngày 25.9.2023, P chuyển khoản cho K 500.000 đồng.

Ngoài 06 lần trên, P khai nhận có mua ma túy đá của Lành 02 lần nhưng không nhớ thời gian cụ thể, khi P liên hệ K để mua ma túy đá thì K nói hết ma túy nên chỉ P đến địa điểm gần cầu vượt ngã ba Huế, TP . và tại đường T, TP . (không nhớ rõ địa chỉ) để gặp L nhận ma túy và đưa tiền trực tiếp cho L.

2. Trương Quang V đã mua ma túy đá của K và L 02 lần, cụ thể:

  • Lần 01: Vào khoảng giữa tháng 9.2023, V điện thoại cho K để mua 300.000 đồng ma tuý đá. K hẹn V đến gần ngã tư đường B - N, phường H, quận C, TP . để nhận ma tuý. V nói với K là không đủ tiền trong tài khoản ngân hàng nên chuyển khoản trước cho K 100.000 đồng, khi nhận ma tuý sẽ đưa thêm tiền mặt thì K đồng ý. K dùng băng keo dán gói ma tuý vào chậu cây cảnh tại khu vực ngã tư nói trên rồi chỉ vị trí cho V, V nhận ma túy theo chỉ dẫn của K và để 200.000 đồng tại chậu cây cảnh rồi đi về.
  • Lần 02: Khoảng 02 ngày sau, V điện thoại cho K để mua 300.000 đồng ma tuý đá và nói K giao ma túy tại nhà V tại kiệt A N, phường H, quận L, TP .. K đến nhà V1 đưa số điện thoại của L cho V và nói V liên hệ với L để mua ma túy. Sau đó, V gọi cho L để mua 300.000 đồng ma túy đá và nói L đến đầu kiệt nhà V để giao ma túy. Khoảng 10 phút sau, L điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen (không rõ biển số) chở thêm một người phụ nữ khác (V không quen biết) đến trước kiệt A N, TP . giao ma tuý cho V. V đưa tiền mặt 300.000 đồng cho L, sau đó K, L cùng người phụ nữ ra về.

3. Lê Thành Trung liên hệ K để mua ma túy qua tài khoản Zalo có số điện thoại 0796.593.xxx của K, K hẹn giao ma túy tại địa chỉ A P, TP ., T1 trả tiền bằng cách chuyển khoản, mỗi lần T1 đều mua 300.000 đồng. T1 đã mua ma túy đá của K 08 lần, cụ thể vào các ngày: 05.09.2023; 06.09.2023; 11.09.2023; 12.09.2023; 15.9.2023; 18.9.2023; 20.9.2023 ; 23.9.2023.

4. Hứa Minh Đ liên hệ K để mua ma túy qua số điện thoại 0796.593.xxx của K, K hẹn giao ma túy tại địa điểm gần nhà Đ, Đ trả tiền mặt hoặc chuyển khoản, mỗi lần Đ đều mua 300.000 đồng. Đ đã mua ma túy của K 04 lần, cụ thể vào các ngày: 05.09.2000 18.09.2023; 21.09.2023; 24.09.2023.

Kết quả xét nghiệm, L, K, P, T1, Đ dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Kết quả điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 43H1-120.10 do bà Nguyễn Thị Kim C1 đứng tên chủ sở hữu. Bà C1 khai đã bán xe cho 01 cửa hàng trên đường T, TP. (không nhớ rõ địa chỉ) vào tháng 02.2022 nên hiện nay không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này. Võ Thị L khai đã mua chiếc xe này tại 01 cửa hàng mua bán xe cũ trên đường T, TP . (không nhớ rõ địa chỉ) vào tháng 10.2022 với giá 13.000.000 đồng, chủ cửa hàng đưa Giấy đăng ký xe cho L sử dụng nhưng L chưa làm thủ tục sang tên.

Xử lý vật chứng: Tất cả những vật chứng nêu trên và ma túy còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu bảo quản chờ xử lý.

Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo chối tội, khai nhận bất nhất:

  • Đối với bị cáo Nguyễn Đình K: Ban đầu, K khai nhận: Vào khoảng 11 giờ ngày 25.9.2023, K chở L đến trước quán cà phê số A đường N, TP . để L đứng đợi người mua ma túy, còn K về nhà lấy nỏ đi sử dụng ma túy, khi K quay lại vị trí L đứng thì bị bắt quả tang, 02 gói ma túy do Cơ quan Công an thu giữ là của L cất giấu để bán cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch). Cách thức mua bán ma túy của L và K như sau: khi có người liên hệ với K để mua ma túy đá thì K nói với L có người mua ma túy và giá tiền, L sẽ chuẩn bị ma túy, sau đó K chỉ người mua đến chỗ L nhận ma túy hoặc K sẽ chở L đi giao hoặc L tự đi giao, sau mỗi lần giao dịch thành công thì L cho K ma túy đá để sử dụng. K giúp sức cho L bán ma túy từ tháng 8.2023, đã giới thiệu L bán ma túy cho Võ Nhất P, Lê Thành T1, Hứa Minh Đ nhưng không nhận tiền từ những người này. Tại biên bản hỏi cung và bản tự khai ngày 16.4.2024, K thay đổi toàn bộ lời khai của mình, không thừa nhận việc tham gia mua bán trái phép chất ma túy với L.
  • Đối với bị cáo Võ Thị L: Ban đầu, L không thừa nhận 02 gói ma túy Cơ quan Công an thu giữ là của mình, không có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, L đã thừa nhận 02 gói ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ là của mình, mục đích để sử dụng, L không thừa nhận hành vi tham gia mua bán trái phép chất ma túy với K.

Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được:

  • Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang L và K.
  • Bản Kết luận giám định chất ma túy.
  • Lời khai và Biên bản nhận dạng của các nhân chứng: Nguyễn Trường S, Nguyễn Đình H, Trần Thị Hồng T2, xác nhận Võ Thị L là người vứt 02 gói ma túy xuống đất khi bị Công an kiểm tra.
  • Lời khai nhận tội của K phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại gắn sim số 0796.593.xxx của K, thể hiện sự việc vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25.9.2023, có người dùng số điện thoại 0877.633.xxx liên hệ với K để mua ma túy, K nói cho L biết và chở L đến trước quán cà phê số A đường N để đợi người mua.
  • Biên bản nhận dạng Nguyễn Đình K, Võ Thị L của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Võ Nhất P, Lê Thành T1, Hứa Minh Đ, Trương Quang V, xác nhận K và L là những người đã bán ma túy cho P, T1, Đ, V.
  • Lời khai của Võ Nhất P, Lê Thành T1, Hứa Minh Đ, Trương Quang V khai nhận đã mua ma túy của K các lần như nêu trên, phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại của P, T1, Đ và phù hợp với sao kê tài khoản ngân hàng TMCP Q (MB) số 0796593851 của Nguyễn Đình K về thời gian, số tiền các lần mua ma túy.
  • Kết quả đối chất giữa K và P, T1, V: K chỉ thừa nhận bán ma túy cho V 01 lần và nhận 100.000 đồng tiền mua ma túy của V, K không thừa nhận các lần nhận tiền mua ma túy từ P, T1, Đ.

Có đủ cơ sở để chứng minh: Nguyễn Đình K và Võ Thị L đã bán ma túy cho Võ Nhất P 03 lần, Trương Quang V 01 lần; Nguyễn Đình K đã bán ma túy cho Võ Nhất P 05 lần, Trương Quang V 01 lần, Lê Thành T1 08 lần, Hứa Minh Đ 04 lần.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Đình K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ Thị L mức án từ 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng: Điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K mức án từ 10 (mười) năm đến 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý tang vật vụ án:

  • Tịch thu, tiêu hủy 01 bì giấy ký hiệu A chứa: 3,055 gam mẫu còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả được dán kín, niêm phong bằng hình dấu đỏ Phòng K1, chữ ký của bên giao, nhận; 01 Bì niêm phong kỷ hiệu: A1 chứa 02 (hai) cái khẩu trang màu trắng; 01 (một) nắp chai nhựa màu đỏ được đục lỗ, trên nắp chai có gắn 01 (một) nó thủy tinh và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng-xanh.
  • Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei 1: 352117132767423, số imei 2: 358372942767428, gắn sim số 0796.593.851 của bị cáo K; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, số khung: RLCS5C6H0EY079524, số máy: 5C6H079527, gắn biển kiểm soát: 43H-120.10.
  • Trả lại cho bị cáo L: 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 869874044608790, số imei 2: 869874044608782, gắn sim số 0345.906.765 và sim số 0934.929.175;

Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Từ ngày 05.9.2023 đến ngày 24.9.2023, Nguyễn Đình K và Võ Thị L đã cùng nhau mua bán ma túy 04 lần, gồm: bán cho Võ Nhất P 03 lần, bán cho Trương Quang V 01 lần. Ngoài ra, K còn trực tiếp bán ma túy 18 lần, gồm: bán cho Võ Nhất P 05 lần, bán cho Lê Thành T1 08 lần, bán cho Hứa Minh Đ 04 lần, bán cho Trương Quang V 01 lần.

Đến khoảng 11 giờ 15 phút ngày 25.9.2023, tại trước quán C2 số A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Võ Thị L và Nguyễn Đình K đem theo 3,154 gam ma túy Methamphetamine để chờ bán cho một người (chưa rõ lai lịch) dùng số điện thoại 0877.633.xxx, thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận H bắt quả tang.

[2] Tại phiên tòa các bị các không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định Võ Thị L và Nguyễn Đình K phạm tội mua bán trái chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Các bị cáo mua ma túy về nhằm mục đích bán lại để kiếm lời nên cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Do vậy, Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Các bị cáo tuy là người trưởng thành nhưng có trình độ học vấn nên các bị cáo thường xuyên vi phạm pháp luật, từng đi chấp hành án nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Đáng lẽ ra các bị cáo phải nhận thức được tác hại nghiêm trọng của ma túy đối với bản thân và cộng đồng để tránh phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội nhưng các bị cáo đã mua ma túy về bán kiếm lời để có tiền sử dụng ma túy. Riêng về ma túy Nhà nước đã có chính sách quản lý độc quyền nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo phải bị xử phạt, cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét hành vi của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:

Cả hai bị cáo cùng nhau mua ma túy về bán cho người khác để kiếm lời, K là người nghe điện thoại rồi báo với L chuẩn bị ma túy rồi cùng đi giao, tiền lời kiếm được L mua ma túy cho K cùng sử dụng. Tuy nhiên Nguyễn Đình K bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự chưa được xóa án tích nhưng bị cáo tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự nên truy tố bị cáo theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Do đó hình phạt đối với bị cáo K phải cao hơn bị cáo L.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo vẫn không khai nhận hành vi phạm tôi nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 bì giấy ký hiệu A chứa: 3,055 gam mẫu còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả được dán kín, niêm phong bằng hình dấu đỏ Phòng K1, chữ ký của bên giao, nhận; 01 Bì niêm phong kỷ hiệu: Al chứa 02 (hai) cái khẩu trang màu trắng; 01 (một) nắp chai nhựa màu đỏ được đục lỗ, trên nắp chai có gắn 01 (một) nó thủy tinh và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng-xanh là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei 1: 352117132767423, số imei 2: 358372942767428, gắn sim số 0796.593.851 của bị cáo K dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 869874044608790, số imei 2: 869874044608782, gắn sim số 0345.906.765 và sim số 0934.929.175 của bị cáo L không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, số khung: RLCS5C6H0EY079524, số máy: 5C6H079527, gắn biển kiểm soát: 43H-120.10; tại phiên tòa bị cáo khai là mượn của ông Nguyễn Sư H1, sinh năm 1972; Địa chỉ 468/7 đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng nhưng qua xác minh tại địa chỉ trên không có ông Nguyễn Sư H1. Mặc khác tại hồ sơ vụ án lời khai của bà Nguyễn Thị Kim C1 đã từng bán xe cho một tiệm cầm đồ phù hợp với lời khai ban đầu của bị cáo L là mua xe tại một tiệm cầm đồ nhưng không nhớ rõ địa chỉ. Đây là phương tiện các bị cáo dùng để đi bán ma túy nên cần sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.

[9] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

I. Tuyên bố các bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Đình K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị L 9 (chín) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2023.

2. Áp dụng: Điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình K 10 (mười) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2023.

II. Xử lý vật chứng:

1. Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 bì giấy ký hiệu A chứa: 3,055 gam mẫu còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả được dán kín, niêm phong bằng hình dấu đỏ Phòng K1, chữ ký của bên giao, nhận; 01 Bì niêm phong kỷ hiệu: A1 chứa 02 (hai) cái khẩu trang màu trắng; 01 (một) nắp chai nhựa màu đỏ được đục lỗ, trên nắp chai có gắn 01 (một) nó thủy tinh và 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng-xanh.

2. Áp dụng điểm b khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei 1: 352117132767423, số imei 2: 358372942767428, gắn sim số 0796.593.851 của bị cáo K; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ - đen, số khung: RLCS5C6H0EY079524, số máy: 5C6H079527, gắn biển kiểm soát: 43H-120.10;

3. Áp dụng điêm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Võ Thị L 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 869874044608790, số imei 2: 869874044608782, gắn sim số 0345.906.765 và sim số 0934.929.175 nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Các vật chứng nói trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 6 năm 2024.

III. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Đình K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

IV. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Cơ quan THAHS quận Hải Châu;
  • - Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM THỊ NGỌC HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger