Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày: 20/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Bình

Ông Đỗ Thanh Đình.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoà – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 190/2024/HSST-QĐ ngày 31/7/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Nguyên T, sinh ngày 02/01/1997, nơi sinh tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán, trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ T1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 01/10/2023 đến ngày 10/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo hiện đang bị áp dụng ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Bích C, sinh ngày 15/7/1988, nơi sinh tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ D, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán, trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H và bà Lương Thị L; chồng Nguyễn Bùi Thiện D(đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 01/10/2023 đến ngày 10/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo hiện đang bị áp dụng ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Nguyễn Thị Hồng P năm: 1985; địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An Có đơn xin vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Hữu H1 năm: 1961 và bà Lương Thị L1 năm: 1964; cùng địa chỉ: Số F đường Số A, phường B, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh Ông H2 mặt, bà L2 đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Nguyên T3 nghề buôn bán tự do và tiếp thị các loại hàng hóa chào bán cho các cửa hàng tạp hóa tại địa bàn thành phố QTrong quá trình buôn bán, thông qua mạng xã hội Facebook, Tbiết người có tên “Mến” và “Bé K(không rõ lai lịch) bán các mặt hàng: bánh kẹo, nước ngọt,... và thuốc lá điếu nhập lậu. Sau đó, T4 lạc qua số điện thoại di động 0359.671.xxx lấy các mặt hàng từ đối tượng “Mến”, "Bé K bán.

Khoảng 10 giờ 00 ngày 29/9/2023, Võ Nguyên T5 được điện thoại qua ứng dụng Zalo của Nguyễn Thị Bích C1 mua 04 (bốn) thùng thuốc lá điếu, nhãn hiệu Mond (loại 50 cây/thùng, 10 bao/cây), Tđồng ý; Tvà Cthoả thuận giá 111.000 đồng/cây, tổng cộng 04 thùng thuốc lá điếu là 22.200.000 đồng. Sau đó, Võ Nguyên Tsử dụng điện thoại di động số thuê bao 0972989852 của mình liên lạc vào số thuê bao 0359671779 cho người có tên “Bé K1 mua 200 (hai trăm) cây thuốc lá điếu, nhãn hiệu Mond giá 107.500đồng/cây, với tổng số tiền 21.500.000đồng. Tvà đối tượng “Bé K2 thuận thanh toán tiền mua thuốc lá điếu qua tài khoản Ngân hàng và nhận hàng tại nhà xe Bvào ngày 01/10/2023, đối tượng Bé Kđưa số tài khoản ngân hàng D1để Tchuyển tiền cho KNgày 30/9/2023, Võ Nguyên Tsử dụng tài khoản số 0571000056600 Ngân hàng TMCP N 18.680.000đồng vào tài khoản số [...] Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1(sinh ngày 29/3/1985; cư trú: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long Ansố tiền còn lại T6 nợ đối tượng Bé K

Khoảng 08 giờ 30 ngày 01/10/2023, Võ Nguyên T7 khiển xe mô tô biển kiểm soát 76G1-227.45 đến nhà kho xe B2địa chỉ: A, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãinhận 02 (hai) thùng thuốc lá điếu và trả cước phí 300.000 đồng cho Nhà xe. Sau đó, Tsử dụng xe mô tô biển kiểm soát 76G1-227.45 vận chuyển thuốc lá điếu đến nhà số H, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãiđể bán cho Nguyễn Thị Bích CLúc 08 giờ 45 ngày 01/10/2023, khi T8 giao 02 (hai) thùng thuốc lá điếu nhập lậu cho Nguyễn Thị Bích C2 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q hiện, bắt quả tang, tạm giữ 02 (hai) thùng cát tông (loại thùng giấy) bên trong có chứa 200 (hai trăm) cây thuốc lá điếu, nhãn hiệu MOND, màu xanh, loại 10 (mười) bao/cây, tổng cộng 2.000 bao đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, không có tem nhãn bằng Tiếng Việt.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Bích C3 nhà số H, tổ D, phường C, thành phố Q hiện, tạm giữ 552 bao thuốc lá điếu, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, không có tem nhãn bằng Tiếng Việt, gồm các loại: 140 bao thuốc lá điếu hiệu ESSE CHANGE, màu xanh; 80 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu CAPRI, màu trắng; 50 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu ESSE Lights, màu trắng; 60 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu MOND, màu tím; 150 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu MOND, màu xanh; 50 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu JET, màu trắng; 19 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu HERO và 03 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu 555, màu xanh.

Cơ quan điều tra tạm giữ thuốc lá điếu và các vật chứng, phương tiện có liên quan; đồng thời niêm phong tang vật và trưng cầu giám định chủng loại, nguồn gốc, xuất xứ của các bao thuốc lá điếu tạm giữ của Tvà C

Tại Kết luận giám định số 2073/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:

  • 2.150 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu MOND SUPER SLIMS; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.1 và 1.2 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu MOND SUPER SLIMS; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 140 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE CHANGE; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.3 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE CHANGE; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 80 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu CAPRI; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.4 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu CAPRI; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE Lights; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.5 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE Lights; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 60 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu mond VARIANCE BLUEBERRY Menthol; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.6 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu mond VARIANCE BLUEBERRY Menthol; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 19 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu HERO; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.7 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu HERO; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 50 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu JET; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.8 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
  • 03 bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu BLEND NO. 555 GOLD; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) nêu ở mục 1.9 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu BLEND NO. 555 GOLD; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).

Phân viện Khoa học hình sự tại TP .không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu mang các nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào”.

Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Thị Bích CVõ Nguyên T về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Võ Nguyên T9 110.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích C số tiền từ 150.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử xét xử mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Q, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như như tại phần tóm tắt nội dung vụ án. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định:

Khoảng 08 giờ 45 ngày 01/10/2023, tại nhà số H thuộc tổ D, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng NgãiVõ Nguyên Tđang thực hiện hành vi bán 2.000 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Mond, không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất) cho Nguyễn Thị Bích C2 bị bắt quả tang. Ngoài ra, quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Bích C4 phát hiện bị cáo C5 trữ 552 bao thuốc lá điếu gồm các nhãn hiệu: Mond, ESSE Change, C, ESSE LJH1và 555 đều không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất) mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Võ Nguyên T, Nguyễn Thị Bích C về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi buôn bán hàng cấm là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng hóa nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • 2.552 bao thuốc lá điếu, trong đó 2.000 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu MOND SUPER SLIMS là của Võ Nguyên T10 đến bán cho bị cáo C6 552 bao thuốc lá điếu (trong đó: 140 bao thuốc lá điếu hiệu ESSE CHANGE, màu xanh; 80 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu CAPRI, màu trắng; 50 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu ESSE Lights, màu trắng; 60 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu mond VARIANCE BLUEBERRY Menthol; 150 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu MOND SUPER SLIMS; 50 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu JET, màu trắng; 19 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu HERO và 03 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu 555, màu xanh) là của bị cáo C7 để bán. Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã sử dụng 302 bao thuốc lá điếu, còn lại 2.250 bao thuốc lá điếu (trong đó 2.020 bao thuốc lá hiệu MOND, 110 bao thuốc lá hiệu ESSE CHANGE; 50 bao thuốc lá điều hiệu CAPRI; 20 bao thuốc lá điếu hiệu ESSE Lights, 30 bao thuốc lá điếu hiệu Mond VARIANCE BLUEBERRY Menthol; 20 bao thuốc lá điếu hiệu JET), được niêm phong trong 03 thùng cát tông (loại thùng giấy) đây là thuốc lá không phải do Việt Nam sản xuất, là hàng hoá cấm kinh doanh, buôn bán nên tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76G1-227.45, nhãn hiệu Jupiter, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu đen và 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu trắng kem là tài sản của bị cáo T11 sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu vàng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone màu đỏ là tài sản của Nguyễn Thị Bích C8 liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo C
  • Đối với điện thoại di động mà bị cáo C9 sử dụng liên lạc với T12 mua thuốc lá điếu và đã vứt khi thấy Công an vào bắt quả tang, Cơ quan điều tra tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

* Đối tượng có liên quan trong vụ án:

  • Quá trình điều tra, bị cáo Võ Nguyên T13 mua thuốc lá điếu từ đối tượng tên “Mến” và “Bé Knhưng bị cáo không rõ lai lịch, địa chỉ của đối tượng MBmà chỉ liên lạc qua số thuê bao 0359671779. Cơ quan điều tra có văn bản yêu cầu cơ quan Vcung cấp hồ sơ đăng ký thuê bao. Tại Báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc điện thoại và SMS của thuê bao, do VChi nhánh Tập đoàn Clcung cấp: Số thuê bao 0359671779 có tên Nguyễn Thanh T14, sinh ngày 21/02/1991, địa chỉ: Khóm D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mauqua điều tra xác định đối tượng tên Nguyễn Thanh T3có hộ khẩu như đã nêu trên, nhưng đã bỏ địa phương đi từ tháng 5/2023, không rõ đi đâu.
  • Tài khoản số [...] đối tượng Bé Kcho T chuyển tiền mua thuốc lá điếu hiệu Mond. Qua làm việc với đối tượng Nguyễn Thị Hồng P ngày: 29/3/1985, địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long Anxác định: Phới thừa nhận có sử dụng tài khoản số [...] – NGUYEN THI HONG PHOI mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B2(L2. Pkhai làm dịch vụ chuyển tiền và có thu phí, ai chuyển tiền đến, chuyển tiền đi, ai đến nhận tiền P1 biết, không quan tâm và giao tiền mặt cho họ là không có cơ sở, bởi lẽ, trong tháng 9/2023 Võ Nguyễn T4đã chuyển khoản cho Nguyễn Thị Hồng P2 cộng 20 lần, lần cuối trước khi T4bị bắt quả tang về hành vi buôn bán hàng cấm là ngày 30/9/2023, T4chuyển khoản cho P3 tiền 18.680.000 đồng, Plà người nhận tiền nhưng P1 chứng minh được đã chuyển lại số tiền trên cho ai, tên gì, ở đâu. Xét thấy hành vi của Nguyễn Thị Hồng P4 dấu hiệu đồng phạm với Võ Nguyễn T4về tội “Buôn bán hàng cấm”. Ngày 26/6/2024, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ vai trò của Nguyễn Thị Hồng P5 vụ án này, đồng thời xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Hồng P6 quy định của Bộ luật Hình sự. Nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Kết luận điều tra, Cáo trạng đã truy tố. Căn cứ Điều 298 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử bị cáo và hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
  • Nguồn gốc thuốc lá điếu nhập lậu tạm giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nhà ở của bị cáo C10 của bị cáo C7 từ nhiều người, không xác định được nhân thân lai lịch để bán lại kiếm lời. Do đó, không có cơ sở làm rõ và xử lý người bán số thuốc lá điều này.
  • Quá trình điều tra, Võ Nguyên T13 ngoài lần bị bắt quả tang này, bị cáo đã có 01 lần bán thuốc lá điếu cho bị cáo C11 Tvà Ckhông nhớ thời gian và số lượng bao thuốc lá đã mua, bán nên không có cơ sở xử lý đối với các bị cáo.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ và các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Võ Nguyên TNguyễn Thị Bích Cmỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 190; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Nguyên T Nguyễn Thị Bích C12 tội: “Buôn bán hàng cấm”.

    2.1. Xử phạt: Bị cáo Võ Nguyên T15 tiền 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu đồng).

    2.2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích C số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

  3. Xử lý vật chứng:
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 76G1-22745;- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone và 01 điện thoại Nokia màu đen.
    • Tịch thu tiêu huỷ 03 thùng cát tông, tại miệng các thùng niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có hình dấu màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và các chữ ký ghi họ tên: Phạm Phú QNgô Thế Huỳnh .
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị B C01 điện thoại Nokia màu vàng và 01 điện thoại Iphone màu đỏ.

    (Vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Qvới Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích CVõ Nguyên T16 bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Bích C13 Nguyên T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND Tp. Quảng Ngãi;
  • - CQCSĐT Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Đội Tổng hợp Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan THAHS và HTTP Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Chi Cục THADS Tp. Quảng Ngãi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Kim Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VÕ NGUYÊN T, NGUYỄN THỊ BÍCH C, ĐIỀU 190
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger