TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2023/HS-ST Ngày 19/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ- TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Trần Thị Tuyết Nga
- - Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ - tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên tòa: Ông Hồ Tuấn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Phạm D, sinh ngày 03/7/1993. Tại tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: khu phố C, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Phạm Thanh D1, sinh năm 1967; Mẹ: Đặng Thị Kiều H, sinh năm 1966; A, chị, em ruột có 03 người (Lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004); V, con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023 đến nay có mặt tại toà.
2. Bị cáo: Bùi Văn T, sinh ngày 27/8/1996. Tại tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Bùi Thanh T1, sinh năm 1969;
Mẹ: Trần Ngọc L, sinh năm 1970; A, chị, em ruột có 02 người (Lớn sinh năm 1993, nhỏ là bị cáo); Vợ, con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023 đến nay có mặt tại toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Kiều H
Nơi cư trú: 18 tổ A ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm D là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 3/2023, loại ma túy D sử dụng là Methamphetamine, nguồn gốc ma túy là do bạn cho để sử dụng. D biết được thông tin tại ngã ba A thuộc xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang có người bán ma túy nên khoảng 21 giờ ngày 23/8/2023, D đến ngã ba A gặp nam thanh niên mua 300.000₫ ma túy được chứa trong túi giấy màu xám có ghi chữ Iphone. D cất túi giấy chứa ma túy vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 63D1-197.15 sau đó điều khiển xe về nhà.
Bùi Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 4/2023, loại ma túy T sử dụng là Methamphetamine, nguồn gốc ma túy là do bạn cho để sử dụng. T được người bạn tên B không rõ nhân thân cho biết tại cầu T thuộc xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long có người bán ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 23/8/2023, T đến khu vực cầu T gặp nam thanh niên mua 1.500.000đ ma túy đá, nam thanh niên đưa cho T 01 bịch ma túy cất trong hộp kim loại màu trắng xanh, 01 bịch ma túy cất vào túi giấy có ghi chữ RAZOR Dao Cạo Râu. T cất hộp kim loại và túi giấy chứa ma túy vào cốp xe 64K1 - 242.66 sau đó điều khiển xe về nhà.
Khoảng 07 giờ ngày 24/8/2023, T sử dụng Zalo tên kEn nhắn tin kết bạn với D có nick zalo Phạm Duy. Sau khi nhắn tin qua lại, D và T hẹn gặp nhau tại Khu công nghiệp H. Khi đi, D lấy 01 bịch ma túy đã mua trước đó để hộp giấy màu xám có ghi chữ Iphone và 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy vào cốp xe môtô biển kiểm soát 63D1-197.15 sau đó điều khiển xe đi đến Khu công nghiệp H. T để hộp kim loại màu trắng xanh bên trong chứa 01 bịch ma túy, túi giấy có ghi chữ RAZOR Dao Cạo Râu bên trong chứa 01 bịch ma túy cất vào cốp xe môtô biển kiểm soát 64K1-242.66 điều khiển xe đi đến Khu công nghiệp H. D và T không biết việc đối phương có tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, D và T gặp nhau sau đó đến nhà trọ Q thuộc ấp P, xã H, huyện L thuê phòng trọ số 07. Khi vào phòng, D lấy bịch ma túy và bộ D2 tự chế từ cốp xe để ra giường chuẩn bị sử dụng cá nhân. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện L kiểm tra bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ:
Thu giữ của Phạm D:
- + 01 (Một) bịch nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- + Xe môtô biển kiểm soát 63D1 - 197.15.
- + Hộp giấy màu xám có ghi chữ Iphone.
- + 01 điện thoại di động hiệu Redmi (số IMEI 1: 865504061323163, số IMEI 2: 865504061323171, gắn sim số 0938.872.190, số seri sim: 8400200250329803).
Thu giữ của Bùi Văn T:
- + 02 (Một) bịch nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- + Xe môtô biển kiểm soát 64K1 - 242.66.
- + 01 hộp kim loại màu trắng xanh.
- + 01 túi giấy có ghi chữ RAZOR Dao Cạo Râu.
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo (số IMEI 1: 864647052506349, IMEI 2: 864647052506386, có gắn sim số 0939.326.124, số seri sim: 8984048008812155254).
Theo kết luận số 607/KL-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 bịch nilon màu trắng hàn kín thu giữ của Phạm Duy 1 ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1735 gam; Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 02 bịch nilon màu trắng hàn kín thu giữ của Bùi Văn T là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 4,6196 gam.
Quá trình điều tra, Phạm D và Bùi Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đối với người bán ma túy cho D và T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đang phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Long điều tra làm rõ. Khi nào xác định được đối tượng xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 124/CT-VKS, ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố bị cáo Phạm D và Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến kiểm sát viên tại tòa: Bảo lưu quan điểm bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm D và bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm D mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu huỷ bỏ một phong bì niêm phong số 607-KL/KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K công an V. 01 hộp giấy màu xanh – trắng có chữ RAZOR dao cạo râu, 01 bộ dụng cụ tự chế dung để sử dụng chất ma tuý.
Giao trả cho bị cáo Bùi Văn T 01 xe mô tô biển số 64K1- 242.66, 01 điện thoại OPPO (số IMEI 1: 864647052506394; IMEI 2: 864647052506386 có gắn sim số 0939326124 số seri sim 8984048008812155254). Giao trả cho bị cáo Phạm D 01 điện thoại hiệu REDMI (số IMEI 1: 865504061323163; IMEI 2: 865504061323171 có gắn sim số 0938872190 số seri sim 8400200250329803
Giao trả cho bà Đặng Thị Kim T2 01 xe mô tô biển số 63D1- 197.15
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến bị cáo Phạm D tại tòa: Ma tuý của bị cáo mua của một người không rõ họ tên. Bị cáo không biết T cũng có chất ma tuý. Bị cáo và T hẹn gặp nhau trong quan hệ tình cảm. Khi bị cáo bị bắt, công an phát hiện trong cốp xe của bị cáo T có ma tuý bị cáo mới biết. Bị cáo bị giữ 01 xe mô tô là của mẹ bị cáo. 01 điện thoại là của em bị cáo mới cho, 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý và 01 hộp có chữ Iphone. Kiểm sát viên cho rằng bị cáo có ý định tổ chức sử dụng chất ma tuý là không đúng, đây chỉ là một tình huống, bị cáo đã thật thà chứ không gian dối.
Lời sau cùng bị cáo D trình bày: Bị cáo hối hận xin giảm mức án thấp cho bị cáo.
Ý kiến bị cáo Bùi Văn T tại tòa: Bị cáo mới quen D qua mạng xã hội và hẹn gặp nhau tại nhà trọ. Khi gặp D trong nhà trọ thì bị công an bắt cùng với chất ma tuý. Bị cáo cũng không biết là D có giữ chất ma tuý. Còn chất ma tuý của bị cáo là bị cáo mua tại B của một người lạ mặt giá 1.500.000đồng mục đích là để sử dụng.
Lời sau cùng bị cáo T trình bày: Bị cáo bị nhiễm HIV xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của bà H: Tôi yêu cầu trả lại cho tôi chiếc xe môtô, tôi có tham gia công tác chính quyền và xã hội ở địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hai bị cáo Phạm D và Bùi Văn T khai nhận, chất ma tuý bị thu giữ trên người bị cáo là của bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo đã phù hợp với vật chứng của vụ án, phù hợp với kết luận giám định chất ma tuý của cơ quan có thẩm quyền; Là trường hợp phạm tội quả tang. Cáo trạng số 124/CT-VKSLH, ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố hai bị cáo Phạm D và Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2.2] Ma túy là loại chất do nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép đều vi phạm pháp luật; Là loại chất có ảnh hưởng rất xấu đến đời sống xã hội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm. Các bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, cho thấy các bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Với tình hình tội phạm về chất ma tuý ngày càng gia tăng, phức tạp ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người gây mất trật tự xã hội. Việc xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo là cần thiết để lập lại trật tự chung.
Trong vụ án, hai bị cáo phạm tội độc lập, không có dấu hiệu đồng phạm. Do đó, hình phạt của các bị cáo sẽ tương xứng với tính chất, mức độ và khối lượng chất ma tuý mà các bị cáo đã tàng trữ.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo có thật thà khai nhận, thái độ bị cáo thành khẩn. Các bị cáo đều là người nhiễm HIV. Bị cáo D có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo D có ông nội là liệt sỹ, mẹ bị cáo là người có thành tích trong công tác xã hội. Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[2.5] Về xử lý vật chứng: Chất ma tuý còn lại sau giám định phải bị tịch thu, huỷ bỏ. Các tài sản khác của các bị cáo như: xe mô tô, điện thoại không liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo. Chiếc xe mô tô 63D1- 19715 của bà H mẹ của bị cáo D nên giao trả cho bà H. Các tài sản khác như 01 hộp giấy màu xanh, 01 hộp kim loại màu trắng – xanh, 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng chất ma tuý, 01 túi trắng có chữ RAZOR, có giá trị không lớn và có liên quan đến việc cất giấu chất ma tuý nên tịch thu huỷ bỏ.
[2.6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có động cơ lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2.7] Quan điểm của kiểm sát viên tại tòa có cơ sở, tuy nhiên mức hình phạt kiểm sát viên đề nghị có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
[2.8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm D và bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm D 01 (một) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2023.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2023.
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu huỷ bỏ một phong bì niêm phong số 607-KL/KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K công an V. 01 hộp giấy màu xanh – trắng có chữ RAZOR dao cạo râu, 01 bộ dụng cụ tự chế dung để sử dụng chất ma tuý.
Giao trả cho bị cáo Bùi Văn T 01 xe mô tô biển số 64K1- 242.66, 01 điện thoại OPPO (số IMEI 1: 864647052506394; IMEI 2: 864647052506386 có gắn sim số 0939326124 số seri sim 8984048008812155254). Giao trả cho bị cáo Phạm D 01 điện thoại hiệu REDMI (số IMEI 1: 865504061323163; IMEI 2: 865504061323171 có gắn sim số 0938872190 số seri sim 8400200250329803
Giao trả cho bà Đặng Thị Kim T2 01 xe mô tô biển số 63D1- 197.15
Các tài sản trên chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 08/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công án huyện L và chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm D và bị cáo Bùi Văn T mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Trường |
Bản án số 121/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ- TỈNH VĨNH LONG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 121/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ- TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
