Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HS-PT

Ngày 18-12-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng

Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng

Ông Trần Minh Bắc

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 182/2023/HSPT ngày 14-11-2023 đối với bị cáo Phạm Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 173/2023/HSST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Văn D, sinh năm 2000 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn D1, sinh năm 1970; Con bà Hà Thị B, sinh năm 1974; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn D: Ông Lê Minh P – Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19-01-2023, Lê Vũ P1 cùng với Đỗ Thị Ngọc L (là vợ của P1), Nguyễn Văn Q, Đỗ Thanh D2, Phạm Văn D, Võ Nguyễn Ngọc H và một số người khác đang ngồi nhậu tại nhà của P1 thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Lúc này, anh Đặng Ngọc T đi nhậu về ngang qua nhìn thấy nhóm của P1 đang ngồi nhậu, anh T nhớ lại chuyện có thanh niên chạy xe nẹt pô trước nhà mẹ của anh T là bà Phạm Thị T1 (ở gần nhà của P1) nên anh T để xe máy phía trước và đi bộ vào nhà P1 rồi hỏi nhóm của P1 ai là người chạy xe nẹt pô, H trả lời không có; sau khi nói chuyện qua lại thì T dùng tay tát vào mặt H 01 cái rồi hai bên xảy ra cự cãi với nhau và T đi bộ về nhà bà T1.

Bà T1 biết sự việc anh T xảy ra cự cãi với nhóm của P1 nên cùng với con gái là chị Đặng Thị Bé N đi đến nhà P1 nói chuyện và để lấy xe của anh T về. Bà T1 đứng nói chuyện với L một lúc rồi bỏ đi về nhà. Lúc này, P1 điều khiển xe mô tô chở L đi về nhà ba mẹ của L tại khu phố H, thị trấn L, huyện L để đón con.

Khi anh T đi về nhà bà T1 thì có gặp anh Nguyễn Hữu V và kể lại sự việc cháu của anh Lê Văn L1 đòi đánh T (chị L là cháu của anh L1). Sau khi nghe T nói, anh V điện thoại nói lại sự việc cho anh L1 nghe. Sau đó, anh L1 đi đến gặp T để nói chuyện. Lúc về đến nhà bà T1, anh T sợ bị nhóm của P1 kéo đến đánh nên T đi lấy con dao dài khoảng 20cm để ở trước sân nhà.

Trên đoạn đường P1 chở L đi đón con, khi gần đến gần nhà bà T1, anh T nghĩ là nhóm của P1 kéo đến nên anh L1 và anh T đi đến xem, khi đi anh T cầm theo con dao trên tay. P1 nhìn thấy anh T cầm hung khí nên hoảng sợ để xe lại và bỏ chạy bộ về lại nhà của P1, riêng chị L đứng lại nói chuyện với anh L1, biết là người quen nên anh L1 nói lại với T và T đem con dao về nhà bà T1 cất. Khi chạy về đến nhà, P1 thông báo lại với cả nhóm là anh T kêu người cầm hung khí kéo đến. Nghe vậy, tất cả đứng dậy bỏ chạy đi; Q, D2 và D bỏ chạy ra đoạn đường cách nhà P1 khoảng 50m. Tại đây, Q nói với D2 và D về lấy hung khí rồi Q chạy đến nhà Phạm Văn T2 (bạn của Q) gần đó lấy 01 cây đao tự chế do Q cất giấu trong nhà của T2 (lúc này anh T2 đi biển không có ở nhà và T2 không biết việc Q cất giấu cây đao trong nhà của T2), D2 chạy về nhà D2 gần đó lấy 01 cây đao tự chế, D cũng chạy về nhà D gần đó lấy 01 cây kéo, P1 nhặt lấy 02 vỏ chai bia cầm trên tay rồi quay lại nơi để xe của mình. Riêng H chạy ra khu vực đầu đường T, thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L để trốn. Sau khi lấy hung khí xong, Q, D2, D và P1 đi đến nhà bà T1 để tìm anh T. Khi đến khu vực ngã 3 gần nhà bà T1, Q, D2, D và P1 gặp nhau tại đây và tất cả cùng đi đến nhà bà T1. Khi gần đến nhà bà T1, Q nhìn thấy anh T xông đến mình nên Q cầm cây đao chém vào người anh T 01 cái trúng vào bắp tay trái gây thương tích, Q và anh T giằng co với nhau nên anh T bị ngã xuống đường. D2

thấy vậy xông đến cầm đao tự chế chém vào người anh T nhưng do anh T đứng dậy nên không trúng. Dết cùng xông đến cầm kéo đâm anh T 01 cái nhưng không trúng. P1 đứng phía sau cầm 02 vỏ chai bia ném về phía anh T nhưng không trúng. Thấy anh T bỏ chạy nên Q, D2, D và P1 không đánh nữa mà bỏ đi về. Riêng H sau khi bỏ chạy trốn khoảng 15 phút thì quay lại nhà của P1 và nghe nói nhóm của P1 kéo đến nhà bà T1 để đánh anh T nên H định chạy đến can ngăn, H đi được một đoạn thì gặp nhóm P1 đang chạy về và nói lại với H biết vừa chém anh T xong, sau đó tất cả bỏ đi về nhà. Anh T được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện B1.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q, Đỗ Thanh D2, Phạm Văn D và Lê Vũ P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 112/TgT ngày 06-4-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận đối với thương tích của anh Đặng Ngọc T như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả giám định: 01 sẹo lớn lành lõm dính, đứt cơ delta, hạn chế động tác cánh tay mức độ vừa; 02 sẹo nhỏ dần lưu.

- Kết quả cận lâm sàng: Gãy đầu trên xương cánh tay trái, còn dụng cụ kết hợp xương.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 02/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc T tại thời điểm giám định là 26%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với từng vết thương: Các thương tích được gây ra có vị trí và thời điểm tác động cần kề nhau, đã qua phẫu thuật. Hiện tại không xác định chính xác giới hạn từng thương tích nên không xác định được tỷ lệ phần trăm tổn thương từng thương tích.

+ Về vật gây thương tích là gì? Chiều hướng lực tác động: Thương tích của nạn nhân phù hợp với tổn thương cơ thể là “vết chém hay bầm bở”, được gây ra do sự tác động của vật có điện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 173/2023/HSST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q, Đỗ Thanh D2, Phạm Văn D, Lê Vũ P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phạm Văn D 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên hình phạt các bị cáo Nguyễn Văn Q, Đỗ Thanh D2, Lê Vũ P1, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 09-10-2023, bị cáo Phạm Văn D kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ và đúng pháp luật, mức án đã tuyên 03 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp được chứng cứ nào mới làm căn cứ xin giảm hình phạt. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

- Ông Lê Minh P phát biểu bào chữa cho bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là có căn cứ. Đề nghị xem xét bị cáo học vấn thấp, gia đình lao động phổ thông thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng nên áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Lời nói sau cùng, bị cáo mong hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn D gửi trong thời hạn luật định, phù hợp về chủ thể và nội dung kháng cáo nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19-01-2023, tại khu vực khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Văn Q, Đỗ Thanh D2, Phạm Văn D và Lê Vũ P1 đã có hành vi tiếp nhận ý chí cùng nhau chuẩn bị hung khí đi tìm anh Đặng Ngọc T để đánh giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, Q đã sử dụng 01 cây đao tự chế dài 95cm chém 01 nhát trúng vào bắp tay trái của anh T gây thương tích; Dương cầm dao tự chế chém vào người anh T nhưng do anh T đứng dậy nên không trúng; D cầm kéo đâm anh T 01 cái nhưng không trúng; P1 cầm 02 vỏ chai bia ném về phía anh T nhưng không trúng. Theo kết quả giám định thì tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh T do thương tích gây ra là 26%.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo cùng đồng phạm chuẩn bị hung khí là dao tự chế, kéo, vỏ chai bia để tìm đánh bị hại. Sau khi bị Q chém gây thương tích, bị cáo tiếp tục dùng kéo đâm bị hại, tuy không trúng, không gây thương tích nhưng hành vi của bị cáo và đồng phạm là nghiêm trọng coi thường sức khỏe của người khác được pháp luật nên cần thiết phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và quyết định xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được chứng cứ hoặc tình tiết nào mới làm căn cứ xem xét kháng cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của Phạm Văn D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 173/2023/HSST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Phạm Văn D 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2023/HSST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Phạm Văn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - PV 27 - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh BR-VT;
  • - Tòa án nhân dân huyện Long Điền;
  • - VKSND huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - Chi cục THADS huyện Long Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2023/HS-PT ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 121/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn D Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger