Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HSST

Ngày: 18/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Thanh Hương;

2. Bà Võ Thị Phương Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 139/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Phú K, sinh năm 2000 tại tỉnh Tiền G; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B đường Bến Vân Đ, Phường 6, Quận 4, Thành phố H; Nơi cư trú: Số C đường Phạm Hữu L, tổ 5, ấp 4, xã Phước K, huyện Nhà B, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; con ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1963 và con bà Đỗ Huệ T, sinh năm 1963; anh chị em: 02 người (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2008); vợ, con: Chưa có; Tiền án: Bản án số 19/2020/HSST ngày 06/03/2020 Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/3/2021; Tiền sự: Quyết định số 192/2019/QĐ-TA ngày 12/9/2019 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đang thi hành quyết định thì bị bắt tạm giam theo lệnh bắt bị can để tạm giam số 26 ngày 12/9/2019; nhân thân: Quyết định số 430/QĐ-UBND ngày 16/12/2016 của Ủy ban nhân dân xã Phước K, huyện Nhà B, Thành phố H về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại cộng đồng thời gian 06 tháng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022944/QĐ/XPHC ngày 02/12/2016 của Công an xã Phước K, huyện Nhà B, Thành phố H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2023 đến nay. (có mặt)

Bị hại: Ông Trầm Cẩm H, sinh năm 1987; địa chỉ: Số E đường Cách M, Phường 12, Quận 10, Thành phố H (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Đặng Thị Kim H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số F đường Trần Xuân S, phường Tân H, Quận 7, Thành phố H (vắng mặt).
  2. Ông Dương Chí H, sinh năm 1987; địa chỉ: Số G đường Minh P, Phường 5, Quận 6, Thành phố H (vắng mặt).
  3. Ông Ngô Minh T, sinh năm 1994; địa chỉ: Số H đường Hồ Ngọc L, phường An L, quận Bình T, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 31/01/2023, bị cáo Nguyễn Phú K đang ở nhà thì người bạn tên D quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) nhắn tin rủ đi tìm xe ô tô bẻ trộm kính chiếu hậu đem bán, K đồng ý. Hai người hẹn nhau ở cầu Phước L, xã Phước K, huyện Nhà B, Thành phố H. D điều khiển xe máy Yamaha Sirius không rõ biển số, K điều khiển xe máy hiệu Honda Vario màu bạc biển số 50N1-502.XX di chuyển về hướng Quận 7, Thành phố H. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, đối tượng D và bị cáo K đi đến trước chung cư Hoàng Anh Thanh B, địa chỉ: Số K đường D, khu phố 4, phường Tân H, Quận 7 thì D phát hiện xe Mercedes-Benz E200 màu trắng, biển số 51G-757.XX của bà Đặng Thị Kim H đứng tên chủ sở hữu, do ông Trầm Cẩm H chồng bà Hương sử dụng, đỗ bên đường không có người trông coi. D đưa cho K một chiếc kềm và đứng cảnh giới, K đi bộ đến bẻ kính chiếu hậu bên trái và dùng kềm cắt dây điện nối từ kính vào thân xe. Sau khi cắt rời được gương chiếu hậu khỏi thân xe thì bị cáo K cầm kính xe, điều khiển xe máy tẩu thoát thì bị đội dân phòng tự quản khu dân cư Him L tuần tra phát hiện bắt quả tang K cùng với tang vật, còn D chạy thoát.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 7 số 32/KL-HĐĐGTTHS ngày 03/02/2023 xác định: 01 (một) kính chiếu hậu bên trái của xe ô tô nhãn hiệu Mercedes E200, biển số 51G-757.XX, đăng ký tháng 05/2021 trị giá: 59.296.000 đồng.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, bị cáo Nguyễn Phú K đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại Bản cáo trạng số 121/CT-VKS-Q7 ngày 12/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Phú K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trầm Cẩm H đã nhận lại 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe ô tô, màu đen, ký hiệu Mercedes-E200, thông số kỹ thuật: Số III E90411289 và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Phú K bồi thường thiệt hại gì thêm, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 31/01/2023 tại trước chung cư Hoàng Anh Thanh B, địa chỉ: Số K đường D, khu phố 4, phường Tân H, Quận 7, Thành phố H, bị cáo Nguyễn Phú K đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 gương chiếu hậu bên trái xe ô tô, màu đen, ký hiệu Mercedes-E200 của ông Trầm Cẩm H có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 59.296.000 đồng. Vì vậy, hành vi này của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phú K được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự, trị an. Bị cáo có nhân thân xấu, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Phú K có một tiền án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phú K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Đối với đối tượng tên Duy là người rủ bị cáo K đi trộm cắp tài sản, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

[7] Xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) kính chiếu hậu bên trái xe ô tô, màu đen, ký hiệu Mercedes-E200. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho ông Trầm Cẩm H là có căn cứ nên không xét.
  • - 01 (một) kìm cán màu xanh thu giữ của bị cáo K. Đây là công cụ bị cáo mang theo để sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đen, bể màn hình, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo K. Bị cáo K sử dụng để liên lạc với đối tượng tên D để đi trộm cắp tài sản nên xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 (một) xe gắn máy hiệu Vario, màu bạc, biển số 50N1-502.XX, số khung: MH1KF112XHK32796T, số máy: KF11E2348276, đã qua sử dụng thu giữ của K. Qua xác minh chiếc xe do ông Dương Trí H đứng tên chủ sở hữu. Ông H bán lại xe cho ông Ngô Minh T. Ông Tú bán lại cho bị cáo K nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đây là phương tiện bị cáo Nguyễn Phú K sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản nên xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại ông Trầm Cẩm H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên không xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2023.
  2. Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

    • + 01 (một) xe gắn máy hiệu Vario, màu bạc, biển số 50N1-502.XX, số khung: MH1KF112XHK32796T, số máy: KF11E2348276, thu giữ của bị cáo Nguyễn Phú K.
    • + 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đen, bể màn hình, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Phú K.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) kìm cán màu xanh, thu giữ của bị cáo Nguyễn Phú K.

    (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 113 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố H).

  3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

    Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố H.

Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
  • - Công an Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu số án;
  • - Lưu hồ sơ. (Tk. Trang)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Chí Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2023/HSST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ H về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 121/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phú Khánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger