Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/8/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

– Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Huỳnh Kim P, sinh năm: 1995; địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Danh Công T, sinh năm: 1995; địa chỉ: Số A khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Kim P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Kim P và anh Danh Công T tự nguyện tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2021 ngày 05/7/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên cãi vả. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Danh Huỳnh Khánh A, sinh ngày 18/7/2021. Khi ly hôn chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị P không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn anh Danh Công T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/7/2024; tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Đồng thời, anh T cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị P.

- Ngày 01/7/2024 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị P và anh T tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường D và được cung cấp như sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị P, anh T không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thì vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung thì Hội Liên hiệp phụ nữ phường không rõ vì không có thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn chị Huỳnh Kim P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn anh Danh Công T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ các Điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Kim P và anh Danh Công T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2021 do Ủy ban nhân xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cấp vào ngày 05/7/2021 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị P xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên cãi vả. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Chị P xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Anh T1 đã được Tòa án triệu tập làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiến cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa trong vụ án nhưng anh T1 đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị P và anh T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị P yêu cầu được ly hôn với anh T1 là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị P, anh T1 có 01 con chung là Danh Huỳnh Khánh A, sinh ngày 18/7/2021. Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, quá trình tố tụng tại Tòa án, anh T1 vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con chung. Để bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con khi ly hôn, cần giao con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị P về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Kim P tự nguyện không yêu cầu anh Danh Công T cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Kim P phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Kim P về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Danh Công T.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Kim P được ly hôn với anh Danh Công T (theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2021 do Ủy ban nhân xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cấp vào ngày 05/7/2021).
  • - Về con chung: Giao 01 con chung Danh Huỳnh Khánh A, sinh ngày 18/7/2021 cho chị Huỳnh Kim P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau ly hôn, chị Huỳnh Kim P và anh Danh Công T phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Kim P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001014 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - Các đương sự (2);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (1);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (1);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (1);
  • - UBND Ủy ban nhân xã Bình Lộc,
  • thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Lưu: VT, HSVA (2).

Nguyễn Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Kim P-Danh Công T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger