Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HSST

Ngày: 15-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Thái

2. Bà Phan Thị Bích

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Tuấn K, Sinh năm: 2003, tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố G, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Trần Xuân T, sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1971; Vợ, con: Không; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 09/5/2023, bị tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Bà Trương Thị Bích L, sinh năm: 1977; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện tại: Khu phố C, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Trần Hoài P, sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Đỗ Danh P1, sinh năm: 1992. Nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Trần Ngọc Hồng H, sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt không có lý do)
  4. Nguyễn Bá P2, sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Khu phố G, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt không có lý do)
  6. Nguyễn Thị B, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Trương Thị Bích L là chủ Nhà phân phối Minh H1 đặt tại khu phố C, phường T, thị xã L, chuyên phân phối các mặt hàng tiêu dùng cho các đại lý bán lẻ tại địa bàn thị xã L, huyện H và các vùng lân cân. Vào đầu năm 2022, bà L thuê Trần Tuấn K để đi theo xe chở hàng đến các điểm đại lý giao hàng cho bà L (Không ký hợp đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói). Khi đi giao hàng, mỗi đơn hàng sẽ có hai phiếu giao nhận thanh toán (hóa đơn), mỗi đại lý sẽ trả tiền và được nhân viên bán hàng giao cho một tờ, người này sẽ giữ lại một tờ kẹp cùng số tiền trị giá với số hàng hóa ghi trong phiếu giao nhận thanh toán đó mà đại lý trả đem về giao lại cho kế toán. Việc ai trực tiếp thu, giữ tiền thì tổ đi giao hàng tự phân công với nhau, Trần Tuấn K cũng đã nhiều lần thu, giữ tiền từ khách hàng trước đó.

Vào ngày 09/01/2023, tổ đi giao hàng gồm Trần Tuấn K, anh Trần Hoài P và anh Đỗ Danh P1 đi giao hàng tại khu vực huyện H, trong lần giao hàng này thì anh P và anh P1 đưa hàng từ trên xe xuống giao cho các đại lý còn K là người trực tiếp thu và giữ tiền. Trong quá trình giao hàng, K nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền thu được từ một số khách hàng. Cụ thể sau khi thu tiền từ khách hàng K kẹp tờ hóa đơn có số hàng và số tiền lớn giấu vào túi áo khoác đang mặc còn kẹp những tờ hóa đơn có số hàng và số tiền nhỏ bỏ vào giỏ xách để anh P và anh P1 không nghi ngờ. Khi giao hàng tại khu vực chợ T1, huyện H, sợ để tiền nhiều trong túi áo khoác sẽ bị lộ nên K đã vào tiệm điện thoại (K khai không nhớ tên tiệm điện thoại) chuyển vào tài khoản của K số tiền 30.000.000 đồng, số còn lại K vẫn giấu trong túi áo khoác, sau đó K cùng anh P và P1 tiếp tục giao hàng đến chiều tối cùng ngày thì quay về. Khi về công ty, K để chiếc giỏ xách cùng với số tiền còn lại trong phòng kế toán (K khai không xác định được bao nhiêu tiền) rồi đi về nhà. Sáng ngày hôm sau chị Trần Ngọc H2 H là kế toán của N phân phối Minh H1 đến làm việc, kiểm tra giỏ sách, đối chiếu với hóa đơn xuất hàng thấy thiếu tiền (chị H khai không nhớ chính xác trong giỏ xách có bao nhiêu tiền, còn khi đối chiếu với hóa đơn xuất ra ngày 08/01/2023 thì thấy thiếu số tiền 59.593.144 đồng) nên báo cho bà L, bà L liên lạc với K nhưng không được, lo sợ vì đã chiếm đoạt tiền của bà L nên K cũng không đến chỗ làm mà bỏ trốn, bà L sau đó làm đơn trình báo cơ quan Công an.

Quá trình làm việc với Trần Tuấn K, K đã giao nộp 17 phiếu giao nhận thanh toán các đơn hàng và khai nhận đó là những hóa đơn đã thu tiền của các đại lý sau đó chiếm đoạt của bà L, ngoài ra K còn khai nhận làm mất một hóa đơn có số tiền trị giá hơn 3.000.000 đồng, tổng giá trị K thừa nhận đã chiếm đoạt của bà L là số tiền ghi trong các hóa đơn, khoảng hơn 59.000.000 đồng (K không nhớ chính xác). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, K khai đã dùng 21.500.000 đồng mua 01 chiếc điện thoại di động hiệu iphone 13 của anh Nguyễn Bá P2; số còn lại K dùng trả nợ cho chị Nguyễn Thị Ngọc D và tiêu xài cá nhân; chiếc điện thoại sau đó K cũng đã bán lại cho một người không rõ lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh với giá 18.700.000 đồng, toàn bộ số tiền này K đã tiêu xài cá nhân hết.

Về phía bà Trương Thị Bích L, sau khi phát hiện bị K chiếm đoạt tài sản đã đối chiếu với sổ sách kế toán, xác định bị mất số tiền 59.593.144 đồng và yêu cầu Trần Tuấn K bồi hoàn số tiền này, hiện K đã tác động gia đình bồi thường xong, bà L không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Vật chứng vụ án: 17 tờ phiếu giao nhận thanh toán do Trần Tuấn K giao nộp. Hiện đang được quản lý trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 126/QĐ-VKS ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Trần Tuấn K, về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Tuấn K và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tuấn K phạm tội " Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ";

Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 175; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Trần Tuấn K, mức án từ 24 đến 30 tháng tù.

- Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tuấn K khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận:

Vào ngày 09/01/2023 Trần Tuấn K đi giao hàng của bà Trương Thị Bích L cùng với anh Trần Hoài P và anh Đỗ Danh P1 cho các đại lý tại khu vực huyện H, K là người trực tiếp thu và giữ tiền bán hàng. Trong quá trình giao hàng và nhận tiền từ khách hàng, bị cáo Trần Tuấn K đã chiếm đoạt số tiền 59.593.144 đồng bằng cách sau khi thu tiền từ khách hàng Kiệt kẹp tờ phiếu giao nhận thanh toán có số hàng và số tiền lớn giấu vào túi áo khoác đang mặc còn kẹp những phiếu giao nhận thanh toán có số hàng và số tiền nhỏ bỏ vào giỏ xách. Khi giao hàng tại khu vực chợ T1, huyện H, sợ để tiền nhiều trong túi áo khoác sẽ bị lộ nên K đã vào tiệm điện thoại chuyển vào tài khoản của K số tiền 30.000.000 đồng, số còn lại K vẫn giấu trong túi áo khoác, sau đó tiếp tục giao hàng đến chiều tối cùng ngày thì quay về. Khi về công ty, K để chiếc giỏ xách cùng với số tiền còn lại trong phòng kế toán rồi đi về nhà. Lo sợ vì đã chiếm đoạt tiền của bà L nên K cũng không đến chỗ làm mà bỏ trốn khỏi địa phương. Sau khi cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã L mời làm việc, thì Trần Tuấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên.

Việc lợi dụng bà L giao cho Trần Tuấn K đi giao hàng cho các đại lý bán lẻ và thu tiền bán hàng, Trần Tuấn K sau khi nhận tiền hàng của bà L từ các đại lý, đã chiếm đoạt tổng số tiền hàng là 59.593.144 đồng để tiêu xài xá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tuấn K, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, bị cáo lợi dụng niềm tin của bà L trong việc đi giao hàng và thu tiền, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền thu từ khách hàng rồi bỏ trốn để tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với Trần Hoài P, Đỗ Danh P1, Trần Ngọc Hồng H, Nguyễn Bá P2, Nguyễn Thị Ngọc D không biết việc bị cáo Trần Tuấn K đã chiếm đoạt số tiền hàng đã thu nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi đánh bạc mà Trần Tuấn K khai nhận, Cơ quan CSĐT công an thị xã L đang tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ, nên HĐXX không xét.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong thiệt hại gây ra; Bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 17 phiếu giao nhận thanh toán là tài liệu được quản lý trong hồ sơ, bà Trương Thị Bích L cũng không yêu cầu nhận lại nên HĐXX xét thấy cần tiếp tục quản lý tài liệu trên trong hồ sơ vụ án là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền đã chiếm đoạt của bà L. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà L cùng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, xét đây là sự tự nguyện của bà L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bà Nguyễn Thị B không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền bà đã bỏ ra để bồi thường cho bà L, xét đây là sự tự nguyện của bà B, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm c Khoản 2 Điều 175; Điểm b, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn K, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 09/5/2023.
  3. Về án phí: Bị cáo Trần Tuấn K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2023/HSST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 121/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger