|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-9-2024 Về việc ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hoàng Thám
Bà Lê Thị Quyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Trân – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 176/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Chu Đức P, sinh năm: 1966 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
- - Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1968 (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Chu Đức P trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Lê Thị T kết hôn năm 1989 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm 1997 bà T đòi ly hôn nhưng do cha mẹ hàn gắn nên không ly hôn nữa và từ đó tình cảm vợ chồng không còn chỉ sống với nhau vì trách nhiệm với con cái. Đến năm 2011 gia đình bố mẹ vợ cấm ông không được lui tới gia đình, cũng từ đây vợ chồng sống ly thân và vợ ông luôn có thái độ đập phá đồ đạc, đe dọa tính mạng của ông, ông phải làm nhà ở cách xa đã 03 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị T.
Về con chung: Có hai con chung tên Chu Thị H, sinh năm 1990 và Chu Vũ N, sinh năm 1993. Con chung hiện đã trưởng thành không yêu cầu.
Về tài sản chung: Tự thỏa, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 19/7/2024 bị đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà không đồng ý ly hôn với ông P, bà cho rằng ông P muốn rủ bỏ trách nhiệm đối với bà, các con chung đã trưởng thành; tài sản là tài sản của bà, vợ chồng không có nợ chung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu:
Về thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 58 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Chu Đức P đối với bà Lê Thị T; con chung đã trưởng thành nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét; về án phí: Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Ông Chu Đức P yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị T tranh chấp được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà T theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Chu Đức P và bà Lê Thị T làm đám cưới chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1989 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau theo quy định nên quan hệ hôn nhân của ông P và bà T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Ông P yêu cầu ly hôn với bà T vì ông P xác định vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, trước đây bà T đòi ly hôn trước nhưng do cha mẹ hàn gắn nên không ly hôn nữa và từ đó tình cảm vợ chồng không còn chỉ sống với nhau vì trách nhiệm với con cái. Đến năm 2011 gia đình bố mẹ vợ cấm ông không được lui tới gia đình, cũng từ đây vợ chồng sống ly thân và vợ ông luôn có thái độ đập phá đồ đạc, đe dọa tính mạng của ông, ông phải làm nhà ở cách xa đã 03 năm nay. Bà T không đồng ý ly hôn với ông P nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng trong khi ông P vẫn cương quyết ly hôn. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân của ông P và bà T không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông P ly hôn với bà T.
[3] Về con chung: Ông Chu Đức P và bà Lê Thị T có hai con chung tên Chu Thị H, sinh năm 1990 và Chu Vũ N, sinh năm 1993. Xét thấy, ông P và bà T xác định hai con chung Chu Thị H và Chu Vũ N đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông P xác định không yêu cầu. Bà T xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Ông Chu Đức P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Chu Đức P. Ông Chu Đức P được ly hôn với bà Lê Thị T.
- Về con chung: Hai con chung tên Chu Thị H, sinh năm 1990 và Chu Vũ N, sinh năm 1993 đã trưởng thành không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Ông Chu Đức P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ông Chu Đức P đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006421 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ông P có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mộng Chi |
Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
