Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-9-2024

V/v “ly hôn, nuôi con chung giữa chị

Phúc, anh Nguyên"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Phẩm;

Ông Vũ Ngọc Côn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 223/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1990 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn N, sinh năn 1988 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị Trần Thị P trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn N kết hôn với nhau vào năm 2011, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (tuy nhiên hai vợ chồng không đăng ký tạm trú, tạm vắng, anh Hoàng Văn N vẫn đang có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, từ năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con, thường xuyên xảy ra to tiếng, anh N không quan tâm gì đến vợ, con. Vợ chồng đã sống ly thân nhau một thời gian dài. Nay thấy vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, nguyện vọng của chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn N.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có một con chung là cháu Hoàng Duy A, sinh ngày 09/9/2011. Hiện nay cháu Duy A đang ở với chị. Sau khi ly hôn, nguyện vọng của chị được nuôi con chung, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Về điều kiện nuôi con, chị có nơi ở và công việc ổn định, thu nhập hàng tháng của chị từ 8 đến 9 triệu đồng/tháng.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Văn N trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định về thời gian anh và chị P cưới nhau về chung sống và có đăng ký kết hôn như chị P trình bày trên là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng, xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Nay chị P đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung và đang ở với chị P, như lời trình bày trên cuả chị P là đúng. Ly hôn anh không đồng ý để chị P nuôi con chung, nguyện vọng của anh được nuôi con chung, anh không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con. Về điều kiện nuôi con, anh cũng có nơi ở và có thu nhập ổn định.

- Về tài sản, công nợ chung: Anh không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Hoàng Duy A: Nguyện vọng của cháu A là bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ Trần Thị P.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên toà Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P: Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh chị Trần Thị P và anh Hoàng Văn N. Về nuôi con chung: Giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Duy A, sinh ngày 09/9/2011, về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra còn đề xuất về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng: Về thẩm quyền: Chị Trần Thị P có đơn ly hôn với anh Hoàng Văn N, anh N có địa chỉ tại thôn Đ, xã S, huyện L nên căn cứ vào Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P, anh N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hai bên được tự do tìm hiểu và được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; Vợ chồng cưới nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; khi kết hôn đảm bảo các điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Chị P và anh N đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, ly thân nhau đã lâu, nay chị P xin ly hôn đối với anh N, anh N cũng đồng ý. Vậy xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P, anh N đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, cho chị P ly hôn với anh N theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. [3] Về con chung: Chị P và anh N có một con chung là cháu Hoàng Duy A, hiện nay cháu Duy A đang do chị P nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị P có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung. Xét về điều kiện nuôi con, chị P đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh về thu nhập, xét thấy chị P có thu nhập ổn định và đảm bảo các điều kiện cho việc nuôi con chung; Mặt khác nguyện vọng của cháu Hoàng Duy A cũng mong muốn được ở với chị P. Để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu Hoàng Duy A, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Duy A. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. [4] Về tài sản, công nợ các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét và giải quyết.
  5. [5] Về án phí: Chị P là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. [6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 147; Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. 1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P:

    Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị P và anh Hoàng Văn N.

  2. 2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Duy A, sinh ngày 09/9/2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở theo quy định pháp luật.
  3. 3. Về án phí: Chị Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006186 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Hành Nhân;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện từ tòa án;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, nuôi con chung (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xet xu so tham
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger