Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:121/2024/HS-ST

Ngày: 06/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thiện Nghĩa

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Đình Quang

Ông Trần Quốc Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hạnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân

quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia

phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm 2000; Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện M, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị H2 và có 01 con Trần Thị Gia H3; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023; Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h30 phút ngày 26/12/2023, tổ công tác Công an phường M làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn, khi đi đến khu vực ngõ H đường L, phường M, quận N, Hà Nội thì phát hiện Trần Văn C ngồi trên xe máy Honda Wave BKS: 36C2 – 259.52 đang trao đổi với 01 nam thanh niên đang ngồi trên xe máy Honda Airblade (không rõ BKS) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi tổ công tác tiếp cận thì người điều khiển xe máy Airblade bỏ chạy, Trần Văn C bị tổ công tác Công an phường M giữ lại, phát hiện bên trong bàn tay phải của C có 2 túi nilon có chứa thảo mộc khô, bên trong bàn tay trái có 2 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Tại chỗ, C khai thảo mộc khô bên trong 2 túi nilon là ma túy “Tobaco”, Cao mang đi bán cho nam thanh niên đã bỏ chạy, 200.000 đồng là tiền mua ma túy của nam thanh niên đã bỏ chạy đưa cho C. Tổ công tác Công an phường M tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật, dẫn giải đối tượng về trụ sở làm rõ. (BL 23, 24).

Vật chứng thu giữ: (BL 24, 33, 40)

- 02 túi nilon màu trắng, kích thước mỗi túi (khoảng 3x6 cm) bên trong mỗi túi chứa thảo mộc khô nghi là ma túy Tobaco; 01 điện thoại Vsmart màu xanh, lắp sim số 0865104611; 0877359516; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu tím, BKS: 36C2 – 25953, SM: JA39E-2973953, SK: RLHJA3924NY512649; 200.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định:

Trần Văn C làm nghề lái xe ôm, thu nhập không ổn định nên nảy sinh ý định bán ma túy T để kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 26/12/2023, qua mạng xã hội Zalo, C nhắn tin hỏi mua 850.000 đồng tiền ma túy Tobaco của người sử dụng tài khoản Zalo tên “Đồ chơi giới trẻ”, người này đồng ý nên C đã chuyển 850.000 đồng từ số tài khoản 0865104611 mở tại ngân hàng V của C đến số tài khoản 7936896789 tên Nguyen Duy C1 mở tại ngân hàng T3 của người bán. Sau đó, khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, xe ôm công nghệ hãng A đến đầu ngõ A M, Cầu G, Hà Nội, giao cho C 01 hộp giấy màu xanh ghi “trà giảm cân linh chi Hàn Quốc”. Sau khi nhận được ma túy, Cao mang ma túy về phòng trọ số102, tập thể B1, Đ, Cầu G, Hà Nội để chia nhỏ ma túy thành 25 túi nilon khác ( kích thước 3x6cm) cất giữ tại phòng để bán cho ai có nhu cầu với giá 100.000 đồng/túi. Đến 11 giờ cùng ngày, tài khoản zalo tên “Nguyễn Thành C2” nhắn tin đến tài khoản Zalo của Cao tên “Hoàng Nhật M” để hỏi mua 200.000 đồng ma túy T và hẹn giao dịch tại số H L, M, N, Hà Nội, C đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, C điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 36C2-259.53 mang theo 02 túi ma túy Tobaco đến điểm hẹn và gặp người mua, khi cả hai đang giao dịch mua bán ma túy với nhau thì Tổ công tác Công an phường M tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Cùng ngày, công an phường M tiến hành dẫn giải và thu giữ tại phòng trọ số102, tập thể B1, Đ, Cầu G, Hà Nội của Trần Văn C thu giữ được: 23 túi nilong bên trong chứa thảo mộc khô (kích thước 3x6cm) được đựng trong hộp giấy DHA (kích thước 10x15cm) nghi là ma túy Tobaco.

Tại Kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, xác định: “Thảo mộc khô bên trong 02 túi ni lông đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 3,490 gam và Thảo mộc khô bên trong 23 túi ni lông đều có ma túy loại ma túy loại MDMB- 4en-PINACA, tổng khối lượng: 34,210 gam”.

Đối với người mua ma túy của Trần Văn C sử dụng tài khoản zalo tên “Nguyễn Thành C2”: Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát xung quanh khu vực số H L, M, quận N, Hà Nội nhưng không phát hiện đối tượng mua ma túy Tobaco của C nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người bán ma túy Tobaco cho Trần Văn C: Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra điện thoại của C, tại ứng dụng Zalo phát hiện nội dung thông báo từ đơn vị giao hàng “AhaMove” lúc 10h59 phút ngày 26/12/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành xin trích xuất thông tin đơn hàng tại Công ty A1. Ngày 21/2/2024, Công ty cổ phần A1 đã phúc đáp thông tin đơn hàng có mã đơn 238AYNB5 có điểm lấy hàng từ số A ngõ A Phố V, Cổ Nhuế 2, B, Hà Nội; điểm giao hàng: 124 M, M, Cầu G, Hà Nội. Người gửi hàng tên T1, có số điện thoại: 0877.344.xxx, tài xế nhận hàng đi giao lúc 10h36 ngày 26/12/2023 và hoàn thành đơn lúc 10h59 cùng ngày; thông tin tài xế là Phạm Hoàng L (SN: 2004, HKTT: xóm E, N, N, Nam Định, số điện thoại: 0912.548.xxx, CCCD: [...]; hiện tại ở: Nhà T, phương T, quận B, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh L khai nhận: khoảng 10h30 ngày 26/12/2023, anh L có nhận 01 đơn hàng với người gửi tại địa chỉ: số A ngõ A Phố V, C, B, Hà Nội. Anh L không xác định được người giao và nhận đơn hàng trên là ai, không rõ đơn hàng giao gì do công ty có quy định không kiểm tra, mở hàng của khách. Anh L khẳng định bản thân không liên quan gì đến ma túy, anh L chỉ nhận giao hàng trên ứng dụng, không biết bên trong đơn hàng có gì nên không có căn cứ xử lý.

Theo công văn trả lời của công ty cổ phần A1 thẻ hiện: Thông tin đăng ký bởi số điện thoại: 0922.691.xxx là của tài khoản Steve Nguyễn có CCCD: [...], SN: 2004. Qua xác minh thông tin số CCCD là của Nguyễn Duy C3 (SN: 1989, HKTT: Minh Bảo, TP Y, tỉnh Yên Bái) C3 khai nhận số tài khoản 7936896789 mở tại ngân hàng T3 do C3 đăng ký, sử dụng hàng ngày và tài khoản Zalo tên “Đồ chơi giới trẻ” do C3 đăng ký chính chủ số điện thoại 0566.705.555 để sử dụng. Tuy nhiên, do thời gian gần đây C3 không thường xuyên sử dụng tài khoản Zalo tên “Đồ chơi giới trẻ” nên đã bị khóa. Trước đó, C3 sử dụng tài khoản Zalo tên “Đồ chơi giới trẻ” để đăng bán ma túy T, liên lạc và giao dịch mua bán ma túy với người mua. Ngày 26/12/2023, Trần Văn C nhắn tin đến tài khoản Zalo “Đồ chơi giới trẻ” của C3, hỏi mua 850.000 đồng ma túy Tobaco, C3 đồng ý bán và nhắn tin gửi tài khoản ngân hàng T3 số: 7936896789 để Cao chuyển tiền. Sau khi chuyển tiền xong, C có nhắn gửi C3 địa chỉ giao ma túy là tại ngõ A M. Cương lên ứng dụng đặt giao hàng Ahamove đặt người giao hàng, sau đó C3 để ma túy T vào trong hộp giấy màu xanh ghi chữ “Trà giảm cân linh chi Hàn Quốc” và đưa cho người giao tại khu vực ngõ A phố V. Tài khoản trên ứng dụng ahamove của C3 được đăng ký bằng số điện thoại: 0922.691.xxx (số điện thoại do C3 đăng ký và sử dụng; số CMND là: [...], tên tài khoản là Steve N. Ngày 26/12/2023, khi đặt đơn giao ma túy cho C, Nguyễn Duy C3 nhập thông tin tên người gửi là: T1 và số điện thoại người gửi là: 0877.344.xxx. Theo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo cũng như không gây khó khăn đến việc truy tố, xét xử đối với Trần Văn C, nên ngày 25/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra quyết định tách vụ án hình sự số 1408 đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của C3 nhập vào vụ án: Mua bán trái phép chất ma túy ngày 19/3/2024 tại M, N, Hà Nội theo Quyết định khởi tố vụ án số 97 ngày 22 tháng 03 năm 2024 và Quyết định khởi tố bị can số 206 ngày 27 tháng 03 năm 2024 để điều tra đối với C3.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave, mang BKS: 36C2-259.53, quá trình điều tra xác định: xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Tiến hành tra cứu đối với xe máy Honda Wave, mang BKS: 36C2-259.53 thuộc sở hữu của anh Lê Ngọc T2 (SN: 2004, thôn T, xã C, huyện N, Thanh Hóa). Tại cơ quan điều tra, anh T2 trình bày: Khoảng tháng 12/2022, anh T2 mua mới 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, số khung: 512649, số máy: 2973952 và đăng ký chính chủ. Sau khi đăng ký, anh T2 sử dụng chiếc xe thường xuyên, liên tục phục vụ việc đi lại, công việc hàng ngày. Đến khoảng tháng 7/2023 do không còn nhu cầu sử dụng nữa nên anh T2 đã bán lại chiếc xe này cho anh Trần Văn H4 (Sinh năm: 2002, HKTT: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) với giá 13.000.000 đồng kèm theo đăng ký và giấy tờ liên quan đến chiếc xe. Tại cơ quan điều tra, anh H4 trình bày: Khoảng tháng 7/2023, anh H4 mua lại chiếc xe máy trên của anh Lê Ngọc T2 với giá 13 triệu đồng với mục đích phục vụ kinh doanh cho thuê xe máy. Đến khoảng tháng 12/2023, Trần Văn C có thuê lại chiếc xe trên với giá 2.400.000 đồng/tháng với mục đích chạy xe ôm. Sau khi làm hợp đồng, anh H4 đã bàn giao chiếc xe máy trên cùng chìa khóa xe cho C, anh H4 không biết C sử dụng xe máy để đi bán ma túy, không liên quan nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. (BL 65, 128-131). Ngày 07/03/2024, Cơ quan Công an quận N ra Quyết định xử lý vật chứng số 1132 tiến hành trao trả chiếc xe máy Honda Wave, gắn BKS: 36C2-259.53 cho anh H4, anh H4 nhận lại xe máy trên và không có yêu cầu gì về dân sự.

Bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn C khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart và 200.000 đồng đã thu giữ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 ngày 26/12/2023, tại trước nhà số H L, M, N, Hà Nội, Trần Văn C có hành vi bán trái phép 3,490 gam thảo mộc khô có ma túy loại ADB-BUTINACA, cho nam thanh niên (không rõ nhân thân) và tàng trữ 34,210 gam thảo mộc khô có ma túy loại ADB-BUTINACA với mục đích để bán thì bị Tổ công tác Công an phường M phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

[2] Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên thì có đủ cơ sở để áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức án như đề nghị của Đ diệnViện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký của Trần Văn C, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng K - C4; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart và 200.000 đồng là vật chứng vụ án theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Trần Văn C là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 47, Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

27/12/2023.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký của Trần Văn C, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng K - C4; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart lắp 01 sim hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 172 ngày 15/4/2024; Tịch thu sung quỹ nhà nước 200.000 đồng tiền vật chứng vụ án theo Giấy nộp tiền ngày 15/4/2024 vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm tại kho bạc nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn C có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND Q.Nam Từ Liêm;

- VKSND thành phố Hà Nội;

- TAND thành phố Hà Nội;

- Công an Q.Nam Từ Liêm;

- TT lý lịch- Sở Tư pháp TP. Hà Nội;

- Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;

- Lưu HS - VP.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Chu Thiện Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C phạm tội về ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger