|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-9-2024 |
|
|
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thắng.
- Ông Trương Diên Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thu H, sinh ngày 04/4/1995; số CCCD [...]; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
- Bị đơn: Anh Võ Biên C, sinh ngày 28/02/1990; số CCCD [...]; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25-4-2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Lê Thu H trình bày:
Chị với anh Võ Biên C tìm hiểu yêu nhau một thời gian, chung sống có tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2015; cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08-12-2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi cưới, vợ chồng về chung sống tại nhà cha mẹ chồng ở thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đăng ký thường trú chung. Tháng 4/2023, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị mang con về nhà cha mẹ đẻ sinh sống tại thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cả hai sống ly thân từ đó cho đến nay.
Quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn do quan điểm, tính cách không hợp; chị thấy anh C không chăm lo cho gia đình; vợ chồng không chung sống với nhau. Tình trạng kéo dài nhưng không hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
- Về con: Vợ chồng có một người con chung là cháu Võ Gia B, sinh ngày 21-9-2016. Hiện tại, cháu B đang ở với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu B đến khi thành niên.
- Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh C đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Võ Biên C trong thời hạn quy định không nộp hoặc gửi văn bản ghi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quá trình tố tụng, Tòa án nhiều lần tống đạt giấy triệu tập và thông báo cho anh Võ Biên C để trình bày ý kiến, yêu cầu và tham gia hòa giải nhưng anh C vắng mặt không có lý do nên không hòa giải được. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ngày 07-8-2024, Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 20-8-2024 nhưng anh C vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Ngày 21-8-2024, Tòa án tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai vào ngày 05-9-2024 nhưng anh C tiếp tục vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Lê Thu H và anh Võ Biên C kết hôn hợp pháp; có một con chung là cháu Võ Gia B, sinh ngày 21-9-2016.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị H ly hôn anh C; giao cháu B cho chị H trực tiếp nuôi; các vấn đề khác không có yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Võ Biên C có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thu H và anh Võ Biên C kết hôn có đăng ký, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 08-12-2015. Thời điểm đăng ký, cả hai có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở trình bày của Chị Lê Thu H, kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, thấy rằng:
Chị H yêu cầu ly hôn do quan điểm, tính cách không hợp nên thường xuyên cãi vã; đã ly thân thời gian dài. Xét thấy vợ, chồng đã không chung sống thời gian dài, người nào chỉ lo bổn phận của người đó; anh C đã nhiều lần được Tòa án triệu tập để trình bày ý kiến và tham gia hòa giải nhưng đều vắng mặt là không có thiện chí hàn gắn, không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm chăm sóc nhau. Cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị H ly hôn.
[4] Về con: Chị Lê Thu H và anh Võ Biên C có một người con chung là cháu Võ Gia B, sinh ngày 21-9-2016, phù hợp chứng cứ là giấy khai sinh.
Xét yêu cầu giải quyết nuôi con chung khi ly hôn, thấy rằng: Chị H yêu cầu được giao trực tiếp nuôi cháu B. Quá trình tố tụng, anh C vắng mặt nên không có ý kiến, yêu cầu gì về việc nuôi con. Xét thấy từ khi vợ chồng không chung sống, chị H là người nuôi dưỡng cháu B. Hiện tại, cháu B đang ở với mẹ và học tập tại nơi chị H cư trú; chị H có nghề nghiệp và thu nhập ổn định hàng tháng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu giao cháu B cho chị H trực tiếp nuôi đến khi cháu B tròn 18 tuổi là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng: Quá trình tố tụng, chị H là người có quyền lợi trực tiếp trong việc cấp dưỡng đã được phổ biến, giải thích nhưng tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét.
[6] Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[9] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thu H, cho chị Lê Thu H được ly hôn với anh Võ Biên C; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Gia B, sinh ngày 21-9-2016 cho chị Lê Thu H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi cháu B tròn 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- 3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thu H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000855 ngày 06-5-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- 4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh C do mẫu thuẫn gia đình
