Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày 05-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tạ Công Minh.
  2. Ông Lê Hoài Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST - HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Thanh Q, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1994 tại: tỉnh Tiền Giang.

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 13/02/2022, nơi cấp: Cục C về TTXH – Bộ C1.

Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp kỹ sư; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim L; có vợ và 01 con; tiền án không, tiền sự không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952 chết ngày 06/12/2023

Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995 (có mặt)
  2. Bà Phan Thị S, sinh năm 1952 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 16 phút ngày 05/12/2023, Võ Thanh Q có giấy phép lái xe hạng A1 số [...] vào ngày 15/6/2015, có giá trị không thời hạn điều khiển xe môtô hai bánh biển số 63B4 - 389.92 lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng M - T, khi đến Km 1974+216m Quốc lộ A đoạn thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang do thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách với xe liền trước nên để xảy ra va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Văn Đ điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn Đ bị thương, đến ngày 06/12/2023 thì tử vong, hư hỏng phương tiện liên quan.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 09 giờ 35 phút ngày 06/12/2023 xác định: Hiện trường xảy ra tai nạn là tại Km 1974 + 216m Quốc lộ A thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (theo hướng M đi T). Mặt đường nơi xảy ra tai nạn có kết cấu bê tông thảm nhựa đường, mặt đường là đoạn đường thẳng, không có chướng ngại vật, mặt đường tốt, được chia thành 03 làn đường riêng biệt, được phân biệt bằng vạch sơn kẻ màu trắng trên mặt đường, làn đường phía ngoài sát dãy phân cách có chiều rộng 3m50, làn giữa rộng 3m50 và làn trong cùng sát với lề đường rộng 2m35. Địa điểm xảy ra tai nạn và hiện trường sau tai nạn nằm trên làn đường trong cùng (làn 2m35). Hiện trường được tổ khám nghiệm đánh số thứ tự theo vị trí từ nạn nhân, phương tiện và dấu vết liên quan trên sơ đồ như sau: (1) Vị trí vết cày do xe đạp để lại sau tai nạn; (2) Vị trí vết cày do xe môtô 63B4 – 389.92 để lại sau tai nạn; (3) Vị trí xe đạp đổ sau tai nạn; (4) Vị trí xe môtô 63B4 – 389.92 đổ sau tai nạn; (5) Vị trí vết máu để lại hiện trường sau tai nạn; (6) Vị trí trụ điện số 111 làm vật chủ trong vụ tai nạn. Xác định điểm mốc và mép đường bên phải theo chiều đi của phương tiện làm mép chuẩn. Hiện trường xác định theo hướng M đi T (Quốc lộ A), lấy mép đường bên phải theo hướng đi làm mép chuẩn và lấy trụ điện số 111 bên phải theo hướng đi làm vật chủ trong vụ tai nạn giao thông này. Hiện trường được mô tả theo thứ tự sau: Sau tai nạn xe đạp trượt ngã trên mặt đường để lại vết cày trên mặt đường, vết cày này được ký hiệu trên sơ đồ là (1), (1) có hình đứt quãng kéo dài không liên tục đo được là 10m10 (từ đầu vết cày đến trục sau xe đạp). Từ đầu của (1) cách vào mép chuẩn là 1m05, đuôi của (1) cách vào mép chuẩn là 1m00. Tại hiện trường xe môtô 63B4 – 389.92 sau va chạm bị ngã trượt trên mặt đường để lại vết trượt kéo dài từ đầu vết cày đến trục sau của xe môtô 63B4 – 389.92 được ký hiệu là (2) trong sơ đồ. Từ đầu của (2) cách vào mép chuẩn là 0m40, đuôi của (2) cách vào mép chuẩn là 0m80. Đầu của (1) cách đầu của (2) theo đường thẳng vuông góc là 5m00. Tại hiện trường xe đạp sau va chạm ngã xuống đường trượt dài trên đường, đến lúc dừng lại đầu xe hướng về T, đuôi xe hướng về M được ký hiện trên sơ đồ là (3). Từ đầu của (3) cách vào mép chuẩn là 1m70, đuôi của (3) cách vào mép chuẩn là 1m00. (3) cách đầu của (1) là 10m10. Tại hiện trường xe môtô 63B4 – 389.92 sau va chạm với xe đạp ngã trượt dài trên mặt đường đến khi dừng lại, đầu xe hướng về T, đuôi xe hướng về M, được ký hiệu trên sơ đồ là (4) cách vào mép chuẩn là 0m80. Từ trục sau của (3) cách trục (4) theo đường thẳng vuông góc là 0m10. Từ (4) cách (2) theo đường thẳng vuông góc là 4m75. Tại hiện trường sau tai nạn để lại vết máu sát mép đường theo chiều đi được ký hiệu là (5) trên sơ đồ. (5) có kích thước (40 x 30)cm. Tâm của (5) trùng với mép chuẩn theo hướng đi. (5) cách trục trước của (3) theo đường thẳng vuông góc là 1m20. Tại hiện trường trụ điện số 111 nằm bên phải mép chuẩn theo hướng đi được chọn làm vật chủ trong vụ tai nạn này và được ký hiệu trên sơ đồ là (6). Từ (6) cách vào mép chuẩn lề là 5m00. (6) cách đầu của (1) theo đường thẳng vuông góc là 15m30. (6) cách trục sau của (3) theo đường thẳng vuông góc là 24m50. (6) cũng là vật được chọn làm vật chủ trong vụ tai nạn giao thông này.

Khám nghiệm phương tiện xe môtô 02 bánh 63B4 – 289.92 ghi nhận: Xe môtô 63B4 – 389.92 qua khám nghiệm tại hiện trường trên xe để lại các dấu vết sau: Ốp cùm bên phải của xe môtô 63B4 – 389.92 bị bể kích thước (07 x 04) cm; Tay phanh bên phải của xe môtô 63B4 – 389.92 phần đầu tay phanh bị mài mòn, kích thước (01 x 01) cm; Mỏ chắn bùn phía trước của xe môtô 63B4 – 389.92 bị tét, bể để lại bệt màu xanh kéo dài không liên tục trên bề mặt mỏ chắn bùn trước có kích thước (06 x 04) cm và cách mặt đất là 60 cm; Lốp bánh xe môtô 63B4 – 389.92 bề mặt bên phải lốp trước bị xước mặt cao su lốp, để lại chất dính màu xanh dương không liên tục, có kích thước (20 x 03) cm; Cánh yếm bên phải phía trên có vết trầy xước để lại chất dính màu xanh có kích thước (06 x 01) cm; Cách yếm bên phải phía dưới có vết trầy xước để lại chất dính màu xanh, có kích thước (0,5 x 0,5) cm; Ốp lốc máy xe môtô 63B4 – 389.92 trầy xước bề mặt để lại chất dính màu xanh, có kích thước (11 x 11) cm. Hệ thống phanh lái hoạt động bình thường.

Khám nghiệm phương tiện xe đạp ghi nhận: Xe đạp qua khám nghiệm tại hiện trường để lại các dấu vết sau: Rổ xe trầy xước, cong, vênh, biến dạng kích thước (55 x 30)cm; Tay phanh bên trái xe đạp bị mài mòn, kích thước (01 x 01)cm; Tay nắm điều khiển bên trái xe đạp phần đầu bị tét cao su, mài mòn kích thước (03 x 01)cm; Chán ba có vết trầy xước, để lại chất dính màu đen kích thước (30 x 03)cm và (10 x 03)cm; Vỏ bánh sau xe đạp bể, niền bánh sau xe bị gãy, cong, vênh, biến dạng, phần cản của bánh sau gãy, thụng; Chắn bùn sau xe đạp (vè sau) cong móp cụp về phía trước kích thước (30 x 10)cm; Bàn đạp bên phải xe đạp (phần đầu ngoài) bị mài mòn, kích thước (09 x 12)cm, giò đạp bị cong, vênh. Sau tai nạn xe đạp hư hỏng hoàn toàn. Không kiểm tra được tình trạng an toàn của phương tiện.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 401-2023/KLGĐTT-TTPY ngày 06/12/2023 đối với tử thi Nguyễn Văn Đ kết luận: Kết quả khám nghiệm: Tụ máu dưới da đầu toàn bộ; Nứt sọ thái dương đỉnh trái đến chẩm; Xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện hai bán cầu đại não; Xuất huyết hai bán cầu tiểu não; Dập não trán thái dương hai bên; Xuất huyết hành não, cầu não; Vỡ tầng hốc mắt hai bên; Vỡ xương đá phải. Kết quả xét nghiệm nồng độ Alcohol trong máu tử thi Nguyễn Văn Đ là 11.8 mmol/L. Kết luận: Nguyên nhân tử vong tử thi Nguyễn Văn Đ: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện hai bán cầu đại não. Xuất huyết thân não. Dập não trán hai bên. Vỡ vòm sọ, sàng sọ do tai nạn giao thông.

Tại Bản kết luận định giá số 56/KL-HĐĐG ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận: Giá trị thiệt hại của xe đạp (màu xanh) bị hư hỏng ngày 05/12/2023 do tai nạn là 810.000 đồng (Tám trăm mười nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 164-2024/KLTTCT-TTPY ngày 14/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Võ Thanh Q kết luận: Sẹo vết thương vùng gò má phải; Sẹo vết thương môi trên bên trái; Sẹo vết thương môi trên bên phải; Sẹo vết thương niêm mạc môi trên; Sẹo vết thương niêm mạc vùng răng 15, 16; Sẹo vết thương vùng khóe miệng phải. Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Võ Thanh Q là 13% (mười ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư. Kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) [Máu] của Võ Thanh Q ngày 05/12/2023 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T là 0.7 mmol/L.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu chứng cứ thu thập xác định: Xe môtô hai bánh biển số 63B4 – 389.92 do Võ Thanh Q điều khiển lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng M đi T; Xe đạp do nạn nhân Nguyễn Văn Đ điều khiển lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng M đi T; Vùng va chạm giữa xe môtô hai bánh biển số 63B4 – 389.92 và xe đạp thuộc làn đường theo hướng lưu thông của xe môtô hai bánh biển số 63B4 – 389.92, cụ thể từ đầu vết cày của xe đạp (ký hiệu (1) trong sơ đồ) kéo về hướng M là 1,5m và kéo thẳng góc vào lề phải của hướng lưu thông Mỹ Thuận đi T là 01 mét, được ký hiệu là (A). Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn trên là do Võ Thanh Q trong lúc điều khiển xe môtô biển số 63B4 – 389.92 lưu thông trên Quốc lộ A đoạn thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang do thiếu chú quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe liền trước đã để xe va chạm với ông Nguyễn Văn Đ đang điều khiển xe đạp lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả làm ông Đ tử vong, hư hỏng phương tiện liên quan là vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Tại khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ quy định: “23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.” và tại khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ quy định: “1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”.

Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKSCT ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Thanh Q về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thanh Qui p “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại đối với bị cáo, gia đình bị cáo là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo Võ Thanh Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo; Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe tên Võ Thanh Q, lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Tại phiên tòa, bị cáo Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo xin được hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc gia đình cho con còn nhỏ, chăm sóc cha mẹ già và bà nội, làm việc để trả nợ.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu: Về trách nhiệm hình sự, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc gia đình; Về trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu gì thêm.

Bị cáo Q nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc gia đình cho con còn nhỏ, chăm sóc cha mẹ già và bà nội, làm việc để trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bị cáo, bản kết luận giám định tử thi số 401-2023/KLGĐTT-TTPY ngày 06/12/2023 của Trung tâm P - Sở Y1, bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 164-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 14/5/2024 của Trung tâm P - Sở Y1, bản kết luận định giá số 56/KL-HĐĐG ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Kiểm sát viên cũng không có ý kiến gì về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu, các bản kết luận giám định, kết luận định giá. Việc định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự được thực hiện theo đúng quy định của tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 16 giờ 16 phút ngày 05/12/2023, tại Km 1974 + 216m Quốc lộ A đoạn thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Võ Thanh Q có hành vi điều khiển xe môtô hai bánh biển số 63B4 – 389.92 do thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe liền trước nên đã để xe 63B4 – 389.92 va chạm vào xe đạp do ông Nguyễn Văn Đ điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn Đ tử vong, xe đạp bị hư hỏng. Tài sản thiệt hại do tai nạn có giá trị là 810.000 đồng.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương. Hành vi của bị cáo Võ Thanh Q đã vi phạm quy định khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ nên dẫn đến gây tai nạn va chạm với xe của bị hại Nguyễn Văn Đ, hậu quả làm cho bị hại tử vong. Theo kết quả xét nghiệm thì nồng độ cồn trong máu của Võ Thanh Q ngày 05/12/2023 là 0.7 mmol/L. Tuy nhiên, quá trình điều tra Q khai không sử dụng rượu, bia trước, trong khi xảy ra tai nạn. Theo Quyết định số 320/QĐ-BYT của Bộ Y ngày 23/01/2014 về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh” phần nhận định kết quả: Nồng độ cồn trong máu có trị số bình thường < 10.9 mmol/L nên nồng độ cồn của Võ Thanh Q là 0.7 mmol/L nằm trong trị số bình thường. Nên đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Thanh Q phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo biết hành vi thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe liền trước khi tham gia giao thông là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ có thể gây ra hậu quả nguy hại cho bị hại nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra đã gây ra tai nạn làm cho bị hại tử vong, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại tính mạng và tài sản của bị hại. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại gồm chi phí mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần, gia đình bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo, gia đình bị cáo có người có công với cách mạng, ngoài ra tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do vụ tai nạn giao thông gây nên tại thời điểm giám định của Võ Thanh Q là 13%, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại Nguyễn Văn Đ đã thỏa thuận được số tiền bồi thường, bị cáo đã bồi thường xong, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với xe đạp của ông Nguyễn Văn Đ bị hư hỏng sau tai nạn, anh Nguyễn Văn H là con của ông Đ tự sửa chữa, không yêu cầu bị cáo Q bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đoạn camera thời lượng 01 phút 13 giây, màn hình hiển thị có chữ “2023-12-05” được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông ngày 05/12/2023 trên Quốc lộ A được trích xuất từ hệ thống camera an ninh trên địa bàn huyện C, tỉnh Tiền Giang; Trả lại cho bị cáo Võ Thanh Q 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Võ Thanh Q.

[9] Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trao trả xe môtô hai bánh biển số 63B4 – 389.92; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô hai bánh biển số 63B4 – 389.92 cho bị cáo Võ Thanh Q; Trao trả 01 xe đạp, bị hư hỏng sau tai nạn cho anh Nguyễn Văn H là con ruột ông Nguyễn Văn Đ là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Thanh Q phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

  1. Xử phạt bị cáo Võ Thanh Q 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Võ Thanh Q cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đoạn camera thời lượng 01 phút 13 giây, màn hình hiển thị có chữ “2023-12-05” được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông ngày 05/12/2023 trên Quốc lộ A được trích xuất từ hệ thống camera an ninh trên địa bàn huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Trả lại cho bị cáo Võ Thanh Q 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Võ Thanh Q (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Thanh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ.CSĐT CA H. Châu Thành;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - UBND xã B, Huyện C, tỉnh Tiền Giang;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: án hình sự vi phạm quy định về tham gia thao thông đường bộ Võ Thanh Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger