Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 121/2024/HS - ST

Ngày 03 - 5 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thành Vân.
  2. Ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Tòng Văn T – Sinh năm 1996; Nơi cư trú: Bản H, xã Y, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Tòng Văn T1 và bà Quàng Thị T2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 08/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
  2. Bị cáo bị tạm giữ từ 18/12/2023, chuyển tạm giam ngày 27/12/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Cà Văn A – Sinh ngày 03/10/2005; Nơi cư trú: Bản N, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Cà Văn K (Đã chết) và bà Cà Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giữ từ 18/12/2023, chuyển tạm giam ngày 27/12/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút, ngày 17/12/2023 tổ công tác Công an xã L, huyện M đến nhà Cà Văn A để tiến hành test thử ma túy đối với A, do A đang là đối tượng nằm trong diện bị tố giác về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi tổ công tác đến nhà A thì có cả Tòng Văn T cũng đang ở đây, quá trình làm việc đã thu giữ từ trong túi quần phía trước bên phải của T 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và 01 viên nén màu hồng, T và A khai nhận là Heroine và Hồng phiến do hai người góp tiền để T đi mua về cùng sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và A, thu giữ vật chứng nghi ma túy.

Ngày 18/12/2023, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định đối với vật chứng nghi là ma túy thu giữ của T và A, kết quả:

  • Số chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,03 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu T;
  • 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam, sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu T1.

Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin); có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam.

Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,03 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 0,09 gam loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ, ngày 17/12/2023 Tòng Văn T đến nhà Cà Văn A chơi và rủ A góp tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng, A đồng ý nên đưa cho T 50.000đ, T cũng bỏ ra 50.000đ. Sau đó, T một mình đi bộ ra đường và xin đi nhờ xe của người qua đường đến bản P, xã X, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi T xuống xe rồi đi bộ vào khu vực bản P thì nhìn thấy một người đàn ông dân tộc Mông không quen đang đi bộ trên đường, T nói chuyện và hỏi mua ma túy thì người này bảo T đưa tiền, T đưa cho người đàn ông số tiền 100.000đ (số tiền do A và T cùng góp). Người đàn ông bảo T đứng đợi rồi đi đâu không rõ, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho T

3

01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 01 viên Hồng phiến và một ít Heroine, T nhận ma túy và cất trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về, trên đường về T có xin đi nhờ xe của một người thanh niên không quen về đến bản N, xã L, huyện Sông Mã sau đó đi bộ vào nhà Anh. Về đến A thì T nói đã mua được ma túy đồng thời lấy gói ma túy mua được đưa cho A xem, A bảo T cất giấu gói ma túy đi để ăn cơm xong rồi mới cùng nhau sử dụng. T cất gói ma túy vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi ăn cơm tại nhà A, khi cả hai đang ăn cơm thì có tổ công tác Công an xã L đến làm nhiệm vụ và phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSSM ngày 28 tháng 3 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Tòng Văn T, Cà Văn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tòng Văn T, Cà Văn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt các bị cáo như sau:

  • Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tòng Văn T từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù; xử phạt bị cáo Cà Văn A từ 01 năm 04 tháng - 01 năm 10 tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
  • Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với nội dung bản cáo trạng truy tố, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo và xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

4

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 18 giờ 20 phút, ngày 17/12/2023 đối với Tòng Văn T và Cà Văn A cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và 01 viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “...Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,03 gam loại Heroine (Heroin)...; 0,09 gam loại Methamphetamine”.
  • Lời khai nhận tội của các bị cáo về việc ngày 17/12/2023 bị cáo Tòng Văn T đã rủ bị cáo Cà Văn A góp tiền cùng đi mua ma túy về sử dụng, sau khi góp mỗi người 50.000đ thì bị cáo T trực tiếp đi tìm mua được ma túy, sau khi mua được đang tàng trữ để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
  • Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/12/2023 Tòng Văn T và Cà Văn A có hành vi tàng trữ trái phép 0,03 gam ma túy loại Heroine và 0,09 gam ma túy loại Methamphetamine (tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,12 gam) mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

  1. [3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
  2. Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo T có một tiền sự về việc đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc chưa được xóa cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém và tính khó giáo dục.

  3. [4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
  4. Là vụ án có đồng phạm. Trong đó, bị cáo Tòng Văn T là người rủ rê, khởi xướng việc đi mua ma túy về sử dụng và là người trực tiếp trao đổi mua ma túy nên giữ vai trò là người chủ mưu, cầm đầu. Sau khi tiếp nhận ý chí từ bị cáo T thì bị cáo A cùng góp tiền với bị cáo T để mua bán ma túy nên giữ vai trò là đồng phạm giúp sức tích cực.

5

Vì vậy, đối với mỗi bị cáo cần phải áp dụng một mức án trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm về nhân thân, vai trò của từng bị cáo để đưa ra được một mức án tương xứng nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

  1. [5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  2. [6] Về vật chứng vụ án:
  3. Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

  4. [7] Các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
  5. Về người đàn ông dân tộc Mông bị cáo T khai là người đã bán ma túy. Quá trình điều tra, do bị cáo T khai không biết tên, tuổi cụ thể của người đàn ông này nên không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ.

  6. [8] Về mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề xuất áp dụng:
  7. Đối với mức án do đại diện Viện kiểm sát đề xuất áp dụng đối với bị cáo Cà Văn A là từ 01 năm 04 tháng - 01 năm 10 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Quá trình lượng hình HĐXX căn cứ vào nhân thân, khối lượng ma túy mà bị cáo A đã thực hiện hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo trong vụ án để quyết định áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề xuất áp dụng.

    Đối với hình phạt được đề xuất áp dụng đối với bị cáo Tòng Văn T là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

  8. [9] Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
    • - Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Tòng Văn T, Cà Văn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 01 năm 04 tháng tù.
    • Xử phạt bị cáo Cà Văn A 01 năm 01 tháng tù.
    • Thời hạn tù đối với các bị cáo tính từ ngày 18/12/2023.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

6

  1. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
  2. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tất cả được đựng trong 01 phong bì được niêm phong, dán kín theo đúng quy định của pháp luật. Trên giấy niêm phong ở mặt sau phong bì có mã số 0021406.

    Theo Quyết định chuyển vật chứng số 69/QĐ – VKS ngày 28/3/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

  3. 3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  4. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

  5. 4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/5/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - VKSND huyện
  • - Công an huyện;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự ;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nhung

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS - ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 121/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger