|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2025/HS - ST Ngày 19 - 6 - 2025 |
-------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Huy Tưởng, ông Nguyễn Văn Chiến.
Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Định - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Sùng Chẩn S, sinh năm 2001. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Trú tại: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Tin lành; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12
Họ và tên bố: Sùng Mí D.
Họ và tên mẹ: Vàng Thị C.
Anh, chị em ruột: Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ 6.
Vợ: Giàng Thị D1, sinh năm 2003.
Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Họ và tên: Sùng Mí P, sinh năm 2005. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Trú tại: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Tin lành; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12.
Họ và tên bố: Sùng Mí H.
Họ và tên mẹ: Vàng Thị M.
Anh, chị em ruột: Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ, con: chưa có;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Họ và tên: Sùng Chẩn X, sinh năm 1998. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Trú tại: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Tin lành; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12
Họ và tên bố: Sùng Mí D.
Họ và tên mẹ: Vàng Thị C.
Anh, chị em ruột: Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ 5.
Vợ: Cháng Thị D2, sinh năm 1996 (đã ly hôn);
Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự, nhân thân: không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Họ và tên: Sùng Mí M1, sinh năm 2003. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Trú tại: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Tin lành; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12
Họ và tên bố: Sùng Mí H.
Họ và tên mẹ: Vàng Thị M.
Anh, chị em ruột: Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Vợ: Hoàng Thị C1, sinh năm 2000.
Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
Bị hại: Anh Hầu A C2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. (vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Ly Thị M2, sinh năm 2007. Địa chỉ: Thôn M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. (vắng mặt)
Người bào chữa cho bị cáo X là bà Trần Thị T - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sùng Chẩn X, sinh năm 1998; Sùng Chẩn S, sinh năm 2001; Sùng Mí P, sinh năm 2005 và Sùng Mí M1, sinh năm 2003 là anh em ruột và anh em họ của nhau, đều cùng trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang và xuống thị xã V, tỉnh Bắc Giang ở trọ để đi làm công nhân. Sáng ngày 12/12/2024, X sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A54, màu xanh truy cập vào mạng xã hội tiktok, thấy tài khoản tiktok tên “Achuatuyendung” của anh Hầu A C2, sinh năm 2002, trú tại thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai, ở trọ tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang có đăng bài tuyển dụng công nhân đi làm việc tại các Khu công nghiệp của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh. Do trước đó khoảng năm 2022, X và anh C2 có mâu thuẫn với nhau trong chuyện tình cảm nên X nảy sinh ý định hẹn gặp anh C2 đánh gây thương tích để trả thù. Sau đó, X sử dụng tài khoản tiktok của X nhắn tin đến tài khoản tiktok của anh C2 nói dối xin đi làm tại Khu công nghiệp, anh C2 đồng ý. X sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh, lắp sim 0389.056.151 đăng ký tài khoản zalo tên “Sungchanxuan” nhắn tin đến tài khoản zalo của S rủ S buổi tối đi đánh anh C2 cùng với X thì S đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 12/12/2024, X ngồi ở phòng trọ của X sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A54 truy cập vào mạng xã hội tiktok nhắn tin đến tài khoản tiktok của anh C2, hẹn anh C2 đến đón X ở khu vực đường G-Bắc Giang, gần lối lên đường cao tốc thuộc tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, anh C2 đồng ý. Sau đó, X tiếp tục dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A54, lắp sim 0389.056.151 gọi điện đến số 0336.383.704 của Sùng Mí P rủ Phình tham gia đánh anh C2 cùng, P đồng ý. X hẹn S và P tập trung ở cây xăng Y thuộc tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để cùng đi đánh anh C2. Sau đó, S sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A74, màu đen lắp sim 0355.468.646 gọi điện đến số 0329.656.716 của Sùng Mí M1 rủ M1 đi đánh nhau cùng với S, X và P thì M1 đồng ý. Khoảng 19 giờ ngày 12/12/2024, X điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 23B1-638.99, S điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner, biển số 23AU-019.06, P điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exicter, biển số 23AU-021.21, M1 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển số 23AU-021.04 cùng đến gặp nhau tại cây xăng Y thuộc địa phận tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang như đã hẹn. Tại đây, X nói với M1, S và P “ở đây đông người không đánh được đâu, cho nó đi ra chỗ vắng thì đánh” thì cả ba đồng ý. Sau đó, S, M1 và P điều khiển xe mô tô đi ra khu vực đường G- Bắc Giang, hướng Bắc Giang đi Bắc Ninh và đứng chờ ở lề đường, còn X điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 23B1-638.99 đi theo lối lên đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đón anh C2 đi xuống khu vực đường gom tìm chỗ vắng người để đánh. Trong lúc đứng chờ anh C2 đến, S nói với M1 và P “tý nữa đánh nó rồi lấy điện thoại của nó về dùng” thì M1 và P đều đồng ý. Khoảng 10 phút sau, S, M1 và P nhìn thấy anh C2 điều khiển xe mô tô đi qua, còn X điều khiển xe mô tô đi phía sau, vừa đi vừa chỉ tay về phía anh C2 đi phía trước và nói “nó kia kìa”. Thấy vậy, S, M1 và P điều khiển xe mô tô cùng X đuổi theo anh C2. Khi thấy anh C2 đỗ xe mô tô ở sát lề đường gom cạnh bãi đất trống thuộc địa phận tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thì X điều khiển xe mô tô phóng lên chặn phía trước đầu xe mô tô của anh C2. Anh C2 định điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì X xuống xe dùng hai tay giữ lại và dùng chân đạp đổ xe mô tô của anh C2 khiến anh C2 ngã vào bụi cây sát lề đường. Cùng lúc này, X lao vào dùng tay đấm, chân đạp nhiều phát vào mặt và người của anh C2. Lúc này S, M1, P điều khiển xe mô tô đi đến, S lao vào dùng tay đấm 01 phát vào bụng của anh C2, M1 dùng tay đấm 02 phát vào ngực, mặt và dùng chân đạp 01 phát vào chân của anh C2; P nhặt được 01 gậy bằng gỗ hình hộp, dài 80 cm ở ven đường lao vào vụt 01 phát vào cẳng chân bên trái anh C2. Sau đó, S dùng tay phải ghì chặt lên người anh C2, đồng thời dùng tay trái đưa vào trong túi quần phía trước bên trái của anh C2 lấy được 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng hồng, lắp 01 thẻ sim rồi đưa ra phía sau lưng và nói “lấy điện thoại nó đi” thì X nhìn thấy và cầm chiếc điện thoại trên cất vào trong túi áo khoác của X đang mặc. S tiếp tục dùng tay phải đưa vào bên trong túi quần phía trước bên trái của anh C2 lấy được 01 chiếc ví giả da màu đen cất vào trong túi áo rồi đứng dậy. Lúc này, Xuân giằng lấy gậy từ tay P rồi cầm vụt 01 phát vào lưng và 01 phát vào đùi bên trái anh C2 thì dừng lại. Sau đó, P cầm gậy cùng 03 bị cáo khác điều khiển xe mô tô bỏ chạy về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ của S ở tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, S kiểm tra ví đã lấy được của anh C2 thì phát hiện mặt ví có chữ “GLANNI VERSACE”, bên trong ví có: 4.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng), 01 bảo hiểm xe máy, 01 thẻ ngân hàng T1 và 01 thẻ ngân hàng V đều mang tên Hầu A C2 và nói lại cho X, P, M1 biết. Tiếp đó, X quản lý điện thoại, S quản lý ví cùng tiền và giấy tờ lấy được của anh C2.
Ngày 14/12/2024, anh Hầu A C2 đã làm đơn trình báo việc bị S, X, M1, P đánh gây thương tích và chiếm đoạt tài sản như nêu trên đến Công an phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, Công an phường Q đã bàn giao vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra kiểm tra thân thể anh C2, xác định có các thương tích: 01 vết trầy xước da dưới cánh mũi bên trái dài 0,5cm đã đóng vẩy; 01 vết bầm tím tại mặt trước đùi bên trái dài 09cm, rộng 03cm; 01 vết trầy xước da mặt ngoài mắt cá chân bên trái dài 02cm đang đóng vảy.
Trong các ngày 17/12/2024 và 19/12/2024, thấy hành vi phạm tội đã bị phát hiện, lần lượt Sùng Chẩn S, Sùng Chẩn X, Sùng Mí P và Sùng Mí M1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Khi đầu thú, Sùng Chẩn S giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner, biển số 23AU-019.06 và 01 ví giả da, màu đen, dạng ví gập, bề mặt ví có chữ “GLANNI VERSACE”, bên trong ví có 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô; 01 thẻ Ngân hàng T2; 01 thẻ Ngân hàng V đều mang tên Hầu A C2. Sùng Chẩn X giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 23B1-638.99; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh, lắp sim 0389.056.151; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max-64GB, màu vàng hồng, có ốp bằng nhựa màu trắng xanh, lắp 01 thẻ sim và 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chẩn X. Sùng Mí P giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, lắp sim 0336.838.704; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 23AU-021.21. Sùng Mí M1 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i, màu xanh và 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 23AU-021.04.
Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sùng Mí P ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, quá trình khám xét thu giữ: thu tại vị trí sát tường phía sau cửa ra vào phòng trọ của Sùng Mí P 01 chiếc gậy bằng gỗ, màu vàng, dạng hình hộp, kích thước (2,3 x 3,8) cm, chiều dài 80 cm.
Ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V tiến hành cho Sùng Chẩn S, Sùng Chẩn X, Sùng Mí M1, Sùng Mí P nhận dạng chiếc gậy gỗ đã dùng để gây thương tích cho anh Hầu A C2. Kết quả, S, X, M1, P đều nhận dạng ra chiếc gậy gỗ thu giữ thu giữ khi khám xét là chiếc gậy dùng để đánh rồi chiếm đoạt tài sản của anh C2 như nêu trên.
Ngày 20/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V tiến hành cho anh Hầu A C2 nhận dạng chiếc gậy gỗ thu giữ khi khám xét khẩn cấp và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng hồng, có ốp bằng nhựa màu trắng xanh do X giao nộp. Kết quả, anh C2 nhận dạng ra chiếc điện thoại di động là tài sản của anh bị chiếm đoạt, gậy gỗ là vật các bị cáo dùng đánh để chiếm đoạt tài sản như nêu trên.
Ngày 10/4/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Sùng Chẩn S, Sùng Chẩn X, Sùng Mí M1, Sùng Mí P thực nghiệm lại điều tra quá trình đánh gây thương tích, chiếm đoạt tài sản của anh Hầu A C2. Kết quả, các bị cáo thực nghiệm phù hợp với diễn biến vụ án và lời khai của các bị cáo, lời khai của bị hại.
Tại Bản kết luận giám định số 2883/24/KLTTCT-TTPY ngày 23/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của anh C2: “Thương tích vết sẹo dưới cánh mũi bên trái kích thước nhỏ là 3%. Thương tích vết biến đổi sắc tố da mặt trước đùi trái là 0,5%. Thương tích vết chợt da đóng vảy khô đang liền sẹo mắt cá ngoài chân trái kích thước nhỏ là 1%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hầu A C2 tại thời điểm giám định là 4%. Các thương tích do vật tày gây nên, không xác định được lực gây thương tích”.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 2883B/24/KLTTCT-TTPY ngày 25/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: chiếc gậy bằng gỗ gửi giám định (gậy thu giữ khi khám xét nơi ở của P) có thể gây được các thương tích cho Hầu A C2.
Tại kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận tổng trị giá tài sản của anh Hầu A C2 bị chiếm đoạt ngày 12/12/2024 là 4.580.000 đồng, trong đó: 01 ví giả da bề mặt có chữ “GLANNI VERSACE” trị giá 30.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max-64GB, màu vàng hồng trị giá 4.500.000 đồng; 01 phôi sim điện thoại trị giá 35.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại di động Iphone XS Max bằng nhựa màu trắng xanh trị giá 15.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 24/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Sùng Chẩn S, Sùng Mí P, Sùng Chẩn X, Sùng Mí M1 đã phạm vào tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 38. Xử phạt: Bị cáo Sùng Chẩn S từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 38. Xử phạt: Bị cáo Sùng Chẩn X từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 38. Xử phạt: Bị cáo Sùng Mí P từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 58; Điều 38. Xử phạt: Bị cáo Sùng Mí M1 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024.
-
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen, lắp sim 0335.468.646; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner, biển số 23AU-019.06: 01xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 23B1-638.99; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh, lắp sim 0389.056.151; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biên số 23AU-021.21 và 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 23AU-021.04.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc gậy rỗ màu vàng, dạng hình hộp, kích thước (2,3 x 3,8)cm,chiều dài 80cm.
- Trả lại cho bị cáo Sùng Chẩn X 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chẩn X.
- Trả lại cho bị cáo Sùng Mí P 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, lắp sim 0336.838.704;
- Trả lại cho bị cáo Sùng Mí M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i, màu xanh.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh C2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 4.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần, sức khỏe. Đối với xe mô tô không bị hư hỏng gì nên không yêu cầu bồi thường. Cả 04 bị cáo đã tác động chị Ly Thị M2, sinh năm 2007, trú tại thôn M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang (là bạn của P) bồi thường cho anh C2 số tiền 4.000.000 đồng. Hiện tại anh C2 không yêu cầu bồi thường dân sự và chị M2 không có yêu cầu gì về số tiền bỏ ra bồi thường nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp thu nhập ổn định; các bị cáo thuộc hộ nghèo sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án. Đề nghị Miễn án phí cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo X tranh luận như sau: Bị cáo là người dân tộc, thuộc hộ nghèo, trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo X dưới khung hình phạt.
Đại diện viện kiểm sát tranh luận như sau: các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Viện kiểm sát đề nghị xử cho các bị cáo thấp nhất là 07 năm và cao nhất là 07 năm 06 tháng là đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo.
Bị cáo Sùng Chẩn X, Sùng Chẩn S, Sùng Mí P, Sùng Mí M1 nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo, của bị hại và người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng năm 2022, Sùng Chẩn X và anh Hầu A C2, sinh năm 2002, trú tại thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cao, có mâu thuẫn với nhau trong chuyện tình cảm. Ngày 12/12/2024, X rủ Sùng Chẩn S, Sùng Mí P và Sùng Mí M1 cùng nhau đi đánh anh C2 để trả thù, cả ba đồng ý. X hẹn anh C2 đi đến tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để gặp mặt. Trong lúc chờ X đưa anh C2 đến điểm hẹn, S rủ M1, P thống nhất sẽ đánh anh C2 rồi chiếm đoạt điện thoại di động của anh C2 thì cả hai đồng ý. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/12/2024, khi X đón anh C2 đi đến khu vực đường G Hà Nội- Bắc Giang, thuộc địa phận tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thì X, S, M1 dùng chân, tay không lao vào đấm, đá nhiều cái vào người anh C2, P cầm 01 chiếc gậy gỗ, dạng hình hộp dài 80cm nhặt ở rìa đường trước đó lao vào vụt vào người anh C2, làm anh C2 nằm ngã ra đất, không dám chống cự. Tiếp đó, S dùng tay ghì chặt người anh C2 ở mặt đường, dùng tay lấy được trong túi quần anh C2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng hồng, lắp 01 thẻ sim, vỏ ốp bằng nhựa có tổng trị giá 4.550.000 đồng đưa cho X cất giữ, rồi S tiếp tục lục lấy được trong túi quần anh C2 01 ví giả da trị giá 30.000 đồng, bên trong có 4.000 đồng tiền mặt cùng giấy tờ xe mô tô, thẻ Ngân hàng mang tên anh C2 và tự giữ lại. Sau đó, X lấy gậy gỗ trên tay P vụt 02 phát vào người anh C2 thì dừng lại và cùng nhau bỏ khỏi hiện trường. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt được của anh C2 là 4.584.000 đồng, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh C2 do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là 4%. Cơ quan điều tra đã thu giữ được toàn bộ tài sản, giấy tờ các bị cáo chiếm đoạt để trả lại bị hại cùng vật chứng dùng phạm tội.
Hành vi của Sùng Chẩn S, Sùng Mí P, Sùng Chẩn X, Sùng Mí M1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Sùng Chẩn S, Sùng Mí P, Sùng Chẩn X, Sùng Mí M1 trên về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân và vai trò của từng bị cáo thì thấy:
Bị cáo X là người rủ Sùng Chẩn S, Sùng Mí P và Sùng Mí M1 cùng nhau đi đánh anh C2 nên giữ vai trò chính. Bị cáo S là người khởi xướng việc cướp tài sản, là người rủ bị cáo M1 và phình cướp tài sản, là người tích cực nhất trong việc cướp tài sản nên giữ vai trò ngang với bị cáo X.
Bị cáo P và M1 là người phạm tội ít tích cực hơn nên giữ vai trò thấp hơn bị cáo S và X.
[5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động người khác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, các bị cáo đã đầu thú nên đều được hưởng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại anh C2 toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt gồm: điện thoại di động cùng thẻ sim, vỏ ốp điện thoại, ví, tiền và giấy tờ xe mô tô, thẻ Ngân hàng mang tên anh C2.
Đối với 04 xe mô tô của 4 bị cáo liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại của bị cáo X và chiếc điện thoại của bị cáo S liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với chiếc điện thoại của bị cáo P và M1 không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chẩn X cần trả lại cho bị cáo X.
Đối với 01 chiếc gậy gỗ là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.
Quá trình điều tra anh C2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 4.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần, sức khỏe. Đối với xe mô tô không bị hư hỏng gì nên không yêu cầu bồi thường. Cả 04 bị cáo đã tác động chị Ly Thị M2, sinh năm 2007, trú tại thôn M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang (là bạn của P) bồi thường cho anh C2 số tiền 4.000.000 đồng. Hiện tại anh C2 không yêu cầu bồi thường dân sự và chị M2 không có yêu cầu gì về số tiền bỏ ra bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp thu nhập ổn định; các bị cáo thuộc hộ nghèo sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9]. Về án phí: Các bị cáo thuộc hộ nghèo sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên miền án phí cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Sùng Chẩn S 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Sùng Chẩn X 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Sùng Mí P 07 (bẩy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Sùng Mí M1 07 (bẩy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen, lắp sim 0335.468.646; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner, biển số 23AU-019.06: 01xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 23B1-638.99; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh, lắp sim 0389.056.151; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biên số 23AU-021.21 và 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 23AU-021.04.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc gậy rỗ màu vàng, dạng hình hộp, kích thước (2,3 x 3,8)cm,chiều dài 80cm.
- Trả lại cho bị cáo Sùng Chẩn X 01 căn cước công dân mang tên Sùng Chẩn X.
- Trả lại cho bị cáo Sùng Mí P 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, lắp sim 0336.838.704;
- Trả lại cho bị cáo Sùng Mí M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i, màu xanh.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí cho các bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 121/2025/HS - ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về cướp tài sản
- Số bản án: 121/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sùng Chẩn Sơn - Trộm cắp tài sản
