TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2025/HS-ST
Ngày: 17/6/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Ông Nguyễn Tấn Triều
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Thu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: HUỲNH NGỌC THANH H2; Giới tính: Nam;
- Tên gọi khác: không;
- Sinh năm 1979; - Nơi sinh: Vĩnh Long;
- Nơi thường trú: 1/68/15/30 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ;
- Nơi ở hiện tại: D N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 09/12; - Nghề nghiệp: buôn bán;
- Cha: Huỳnh Ngọc K (chết);
- Mẹ: Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1960;
- Em ruột: có 03 người (lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1985);
- Vợ: Đồng Thị B, sinh năm 1978;
- Con: có 03 người (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019);
- Tiền án: không.
- Tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố ngày 12/12/2024. Hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2/ Họ và tên: ĐỒNG THỊ B; - Giới tính: Nữ;
- Tên gọi khác: Không;
- Sinh năm 1978; - Nơi sinh: Vĩnh Long;
- Nơi thường trú: 1/68/15/5 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ;
- Nơi ở hiện tại: D N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ;
- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 09/12; - Nghề nghiệp: buôn bán;
- Cha: Đồng Văn H, sinh năm 1957;
- Mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956;
- Chị ruột: Đồng Thị L1, sinh năm 1976;
- Em ruột: có 02 người (lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1987);
- Chồng: Huỳnh Ngọc Thanh H2, sinh năm 1979;
- Con: có 03 người (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019);
- Tiền án: không.
- Tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố ngày 12/12/2024. Hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1981
Địa chỉ: 8 KV Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Thái Hữu P, sinh năm 1993
Địa chỉ: B P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
2/ Bà Lê Đức Huỳnh N, sinh năm 1975
Địa chỉ: E N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15/10/2024, anh Nguyễn Tấn Đ đến tiệm bạc L2 tại lô C, nhà L, Trung tâm thương mại C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ để xi 02 bộ vòng tay (vòng ximen) gồm 14 chiếc. Bị cáo Đồng Thị B nhận làm cho anh Đ với giá 900.000 rồi đưa 02 bộ vòng cho bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2 để gia công. Ngày 16/10/2024 bị cáo B đem 03 chiếc vòng đến tiệm V cầm được 5.000.000đồng. Ngày 18/10/2024, anh Đ đến lấy vòng, thì bị cáo B trả lại anh Đ 07 chiếc đã xi xong rồi nói dối anh Đ những chiếc còn lại chưa làm xong hẹn sẽ trả vào ngày 20/10/2024. Nhưng trong ngày 18/10/2024 bị cáo H2 tiếp tục đem 03 chiếc vòng đến tiệm V1 cầm với giá 10.000.000đồng, còn 01 chiếc H2 đem đến tiệm V cầm chung với 03 chiếc bị cáo B đã cầm ngày 16/10/2024 và lấy thêm 6.000.000đồng nữa. Đến ngày 19/10/2024 anh Đ yêu cầu nhận lại toàn bộ vòng không cần xi nữa, nhưng cả hai bị cáo không có khả năng chuộc lại để trả cho anh Đ, nên anh Đ đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Bản kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐĐG ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận N, thành phố Cần Thơ kết luận: 07 (bảy) vòng tay, vàng 14k, trọng lượng 5,534 chỉ có giá trị hiện tại là 27.510.000đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đồng Thị B và Huỳnh Ngọc Thanh H2 thừa nhận hành vi phạm tội. H2 và B đem cầm 07 chiếc vòng của anh Đ được số tiền 21.000.000đồng sử dụng hết, không có khả năng chuộc lại và cũng không có tiền để bồi thường cho anh Đ.
Đối với bà Lê Đức Huỳnh N chủ tiệm V có nhận cầm 04 (bốn) chiếc vòng tay từ H2 và Ba vào ngày 16/10/2024; anh Thái Hữu P chủ tiệm V1 có nhận cầm 03 (ba) chiếc vòng tay vàng 15k từ H2, vào ngày 18/10/2024 tiệm vàng. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu hồi 07 (bảy) vòng tay, trọng lượng là 5,534 chỉ từ hai tiệm vàng nêu trên.
Đối với 07 (bảy) chiếc vòng tay, vàng 14k, trọng lượng 5,534 chỉ là của ông Nguyễn Thành N1 chủ tiệm V2 tại số A Hồ T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trao trả cho ông N1.
Về trách nhiệm dân sự: bà Lê Đức Huỳnh N chủ tiệm V yêu cầu bồi thường tiền cầm 04 (bốn) chiếc vòng tay là 11.000.000đồng; anh Thái Hữu P chủ tiệm V1 yêu cầu bồi thường tiền cầm (03) chiếc vòng tay là 10.000.000đồng. Hiện tại bị cáo chưa bồi thường.
Bản Cáo trạng số 86/CT-VKSNK ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2 và Đồng Thị B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến bào chữa và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2, Đồng Thị B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, đã nộp khắc phục hậu quả nên xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Do đó, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175 điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đồng Thị B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175 điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 07 chiếc vòng tay, vàng 14K, trọng lượng 5,534 chỉ cho ông Nguyễn Thành N1 – chủ tiệm V2 tại số A Hồ T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ nên đề nghị ghi nhận.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm. Tuy nhiên, bà Lê Đức Huỳnh N chủ tiệm V 2 yêu cầu bồi thường tiền cầm 04 chiếc vòng tay là 11.000.000đồng và ông Thái Hữu P chủ tiệm V1 yêu cầu bồi thường tiền cầm 03 chiếc vòng tay là 10.000.000đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà N, ông P là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Các bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0000851 ngày 16/6/2025 đề nghị tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị hại vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ tuy nhiên bị hại đã đã cung cấp đầy đủ lời khai và đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm trong vụ án. Đồng thời, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định.
[3] Căn cứ vào tình tiết vụ án, xét thấy: Ngày 15/10/2024 ông Nguyễn Tấn Đ đem 14 chiếc vòng tay vàng 14K đến tiệm bạc L2 thuê Đồng Thị B và Huỳnh Ngọc Thanh H2 gia công xi hai màu với giá 900.000đồng, hai bên thoả thuận sẽ trả vòng vào ngày 18/10/2024. Tuy nhiên, sau khi nhận được vòng thay vì gia công cho ông Đ, bị cáo B và bị cáo H2 đem 04 chiếc vòng đi cầm ở tiệm V với giá 11.000.000đồng và cầm thêm 03 chiếc vòng tại tiệm V1 với giá 10.000.000đồng. Đến ngày 18/10/2024 chỉ trả lại cho ông Đ 07 chiếc vòng tay, 07 chiếc vòng còn lại các bị cáo không có khả năng trả lại cho bị hại.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận do cần tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo đã đem cầm 07 chiếc vòng tay của bị hại thu được số tiền 21.000.000đồng đã tiêu xài hết và không có khả năng trả lại. Tại bản kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐĐG ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận N, thành phố Cần Thơ kết luận: 07 (bảy) vòng tay, vàng 14k, trọng lượng 5,534 chỉ có giá trị hiện tại là 27.510.000đồng.
Như vậy, hành vi nhận tài sản của người khác và sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài với tổng giá trị là 27.510.000đồng của các bị cáo Đồng Thị B, Huỳnh Ngọc Thanh H2 đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ.
[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, đã nộp khắc phục hậu quả 27.000.000đồng. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đồng Thị B và Huỳnh Ngọc Thanh H2 là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe, có nghề nghiệp nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, lại được bị hại giao quản lý tài sản có giá trị mà bị cáo đã thực hiện hành vi bất hợp pháp để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục giúp bị cáo thay đổi nhận thức sống, biết đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đe, trấn áp những tội phạm tương tự. Vì vậy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có cơ sở. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình (các bị cáo có 03 con nhỏ), các bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và đã nộp khắc phục hậu quả cho các bị hại số tiền 27.000.000đồng, do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.
[6] Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản 07 chiếc vòng tay vàng 14K cho ông Nguyễn Thành N1.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Đức Huỳnh N chủ tiệm V và ông Thái Hữu P chủ tiện vàng Kim Nguyên đã giao nộp 07 chiếc vòng tay và Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Thành N1, bị hại không có yêu cầu gì thêm. Tuy nhiên, bà Lê Đức Huỳnh N yêu cầu bồi thường tiền cầm 04 chiếc vòng tay là 11.000.000đồng và ông Thái Hữu P yêu cầu bồi thường tiền cầm 03 chiếc vòng tay là 10.000.000đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà N, ông P là phù hợp quy định tại Điều 584, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Ngày 16/6/2025 các bị cáo đã nộp 27.000.000đồng tiền khắc phục hậu quả, do đó ghi nhận bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2 và bị cáo Đồng Thị B tự nguyện bồi thường cho bà Lê Đức Huỳnh N 11.000.000đồng và bồi thường cho ông Thái Hữu P 10.000.000đồng. Khấu trừ vào biên lai thu tiền số 0000851 của ngày 16/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, số tiền còn dư được tạm giữ để thực hiện nghĩa vụ án phí.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Đồng Thị B, Huỳnh Ngọc Thanh H2 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đồng Thị B 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Đồng Thị B và Huỳnh Ngọc Thanh H2 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà Lê Đức Huỳnh N 11.000.000đồng và bồi thường cho ông Thái Hữu P 10.000.000đồng. Khấu trừ vào biên lai thu tiền số 0000851 của ngày 16/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, số tiền còn dư được tạm giữ để thực hiện nghĩa vụ án phí.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2, Đồng Thị B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, bị cáo Huỳnh Ngọc Thanh H2, Đồng Thị Ba phải chịu 1.050.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật) lên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Huyền Trang |
Bản án số 121/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 121/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CÁC BỊ CÁO HUỲNH NGỌC THANH HÙNG, ĐỒNG THỊ BA PHẠM TỘI LẠM DỤNG "TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN"
