1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2025/HS-ST |
Ngày: 11/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thu Hà. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Quốc Nông. |
| Ông Nguyễn Trọng Thúy. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2024/TLST-HS ngày 28/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-HS ngày 11/12/2024, đối với các bị cáo:
1/ Phạm Văn H:
sinh năm 1995; Nơi cư trú: khu C, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Phạm Văn L (đã chết), con bà Vũ Thị H1, sinh năm 1970.
Tiền án:
- Ngày 09/6/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 05/9/2020 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 20/12/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 22/7/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 28/11/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 04/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T.
Có mặt tại phiên tòa.
2
2/ Trần Văn T:
sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Văn C (đã chết), con bà Lê Thị N - sinh năm 1961. Vợ: Nguyễn Thị Thu H2 - sinh năm 1987, có 01 con sinh năm 2004.
Tiền án:
- Ngày 06/10/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 06/8/2007 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 07/4/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 08/4/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 30/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018.
- Ngày 22/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt truy nã (ngày 31/8/2020).
Tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam S - Bộ C1 (thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa).
Có mặt tại phiên tòa.
3/ Trần Minh T6:
sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Văn T1 - sinh năm 1972, con bà Lê Thị T2 - sinh năm 1972.
Tiền án:
- Ngày 30/8/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 04/02/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 08/01/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 27/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 28/11/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp (ngày 06/6/2022).
Tiền sự: không.
3
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam S - Bộ C1 (thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa).
Có mặt tại phiên tòa.
4/ Bùi Quý D:
sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Bùi Quang T3 - sinh năm 1974, con bà Trần Thị H3 - sinh năm 1972.
Tiền án:
- Ngày 16/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố H xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 31/8/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 26/12/2020).
Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam S - Bộ C1 (thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa).
Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: anh Nguyễn T4, sinh năm 1988. Có mặt.
Địa chỉ: Số B đường N, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam S1-Bộ C1 (thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa).
* Người làm chứng:
- Từ Diệu V, sinh năm 1975. Vắng mặt.
- Nguyễn Như H4, sinh năm 1985. Vắng mặt.
- Vũ Văn T5, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: phường T, quận K, thành phố Hải Phòng.
Địa chỉ: Khu E, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Đều là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam S1-Bộ C1 (thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
4
Trong quá trình chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 1, Trại giam S-Bộ C1, phạm nhân Phạm Văn H (sinh năm 1995, ở khu C, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) cho rằng phạm nhân Nguyễn T4 (sinh năm 1988, ở đường N, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh) nói xấu mình và nhóm phạm nhân quê ở tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 26/3/2024, sau khi đi lao động về, phạm nhân H lấy một nắm cát ở đầu hè, cách lán nhà ăn khoảng 04 mét, cầm ở tay phải, sau đó H đi vào khu nhà ăn của buồng giam số 13, 14 tìm phạm nhân T4 để nói chuyện. Lúc này, T4 đang cùng với phạm nhân Nguyễn Như H4 (sinh sinh năm 1985, ở phường T, quận K, thành phố Hải Phòng) đang ngồi ăn cơm với nhau thì H chạy lại dùng tay cầm cát trát vào mặt phạm nhân T4, sau đó H tiếp tục dùng tay, chân đấm, đá liên tục vào người và mặt T4. Cùng lúc đó, phạm nhân Trần Văn T (sinh năm 1983, ở Tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) chạy lại cầm một cái tất dài màu đen, bên trong có 05 (năm) cục bê tông đập liên tiếp vào người và đầu của phạm nhân T4 khoảng 3-4 cái. Bị đánh, T4 vùng vằng và bỏ chạy ra khu vực cổng, lúc này H và T tiếp tục đuổi theo T4 để đánh. Khi ra đến khu vực sân chung của buồng giam thì T4 bị ngã sấp xuống đất, H và T đuổi kịp, H dùng chân đạp một cái trúng vào người T4. Lúc này, nghe có tiếng hô đánh nhau thì phạm nhân Trần Minh T6 (sinh năm 1996, ở khu A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) và phạm nhân Bùi Quý D (sinh năm 1994, ở thôn Đ, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên) chạy ra khu vực sân chung để xem, thấy phạm nhân T4 bị T và H đuổi đánh nên T6 chạy lại và dùng tay đấm 01 cái trúng vào người T4; D cũng chạy lại với ý định can ngăn nhưng thấy T4 có thái độ hung hăng, cho rằng T4 muốn đánh mình nên D dùng chân đạp một cái vào hông bên phải làm cho T4 loạng choạng. Do có đông phạm nhân khác và cán bộ Trại đến can ngăn nên sự việc dừng lại. Hậu quả, phạm nhân Nguyễn T4 bị thương phải điều trị tại Bệnh viện Đ (BL số 01-06; 146-160; 184-195; 214-222; 246-287).
Sau khi sự việc xảy ra, Trại giam S-Bộ C1 đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc và đã thu giữ 05 (năm) viên bê tông nhỏ đã cũ, màu xám, hình dạng không xác định, bề mặt nham nhở, được bọc bên ngoài là chiếc tất màu đen (BL 07-09).
*Thương tích và các kết quả giám định:
- Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể phạm nhân Nguyễn Thịnh L1 hồi 11 giờ 15 phút ngày 26/3/2024 (BL74) xác định:
- Trên đầu, tai, vùng chẩm bên trái có một khối sưng nề, bầm tím, xây xát da, kích thước 1cm x 2cm;
- Trên đầu tại vùng chẩm phía sau bên phải có một khối sưng nề, bầm tím, xây xát da chảy máu, kích thước 2cm x 2cm;
- Tại vùng lưng bên trái có các vết xây xước da, kích thước không đồng đều;
- Trên đầu, tại vùng chẩm sau bên phải, cạnh tai phải có một vết xây xát da, sưng nề nhẹ, kích thước 01cm x 1cm.
5
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 443/KLTTCT-PYTH ngày 26/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T (BL 97,98) kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn T4 tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm).
* Vật chứng đã thu giữ:
- 01 (một) chiếc tất chân bằng vải màu đen, bên trên có dòng chữ MINISO màu trắng, tất bị thủng một lỗ và đã qua sử dụng;
- 05 (năm) cục bê tông không rõ hình dạng và có kích thước khác nhau.
Các vật chứng hiện đang được lưu giữ chờ xử lý theo quy định pháp luật.
* Về dân sự:
Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn T4 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) tổn hại sức khỏe và các chi phí khác liên quan. Các bị cáo chưa bồi thường hay khắc phục hậu quả gì cho bị hại.
* Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn T4 khai báo: Trong quá trình xảy ra vụ việc thì còn có phạm nhân Vũ Văn T5 (sinh năm 1991, ở Khu E, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương) có tri hô “Đánh chết mẹ nó đi”. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa không đủ căn cứ kết luận phạm nhân Vũ Văn T5 có tri hô như khai báo của phạm nhân Nguyễn Thịnh .
* Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS-P2 ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Trần Văn T, Trần Minh T6, Bùi Quý D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 38 BLHS.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Xử phạt: bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, tổng hợp hình phạt với bản án HSST số 09/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt truy nã của bản án số 09/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (ngày 31/8/2020).
6
- Xử phạt: bị cáo Trần Minh T6 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt với bản án HSST số 126/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt khẩn cấp của bản án trước (ngày 06/6/2022).
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 39 BLHS.
- Xử phạt: bị cáo Bùi Quý D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt với bản án HSST số 31/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ của bản án trước (ngày 26/12/2020).
- Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại Nguyễn T4 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
- Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ trong vụ án vì không còn giá trị sử dụng.
- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 26/3/2024, sau khi đi lao động về, phạm nhân Phạm Văn H cho rằng phạm nhân Nguyễn T4 nói xấu mình và nhóm phạm nhân quê ở tỉnh Quảng Ninh, nên H đã chủ động đi tìm T4 để nói chuyện. Khi thấy T4, H đã có các hành vi: cầm cát trát vào mặt T4, sau đó tiếp tục dùng tay, chân đấm, đá liên tục vào người và mặt T4; cùng lúc phạm nhân Trần Văn T chạy lại cầm một chiếc tất chân bên trong có 05 (năm) cục bê tông nhỏ đập liên tiếp vào đầu và người T4. T4 bỏ chạy ra khu vực cổng, H và T tiếp tục đuổi theo để đánh, khi ra đến khu vực sân chung của buồng giam thì T4 ngã sấp xuống đất, H và T đuổi kịp, H dùng chân đạp vào người T4. Nghe có
7
tiếng hô đánh nhau thì phạm nhân Trần Minh T6 và Bùi Quý D chạy ra xem, thấy T4 bị H và T lùa đuổi đánh nên T6 chạy lại dùng tay đấm một cái trúng vào người T4, D dùng chân đạp một cái vào người T4. Hậu quả, T4 bị tổn hại 02% (hai phần trăm) sức khỏe. Ngày 30/4/2024, T4 có đơn đề nghị khởi tố vụ án và khởi tố đối với các bị cáo về hành vi gây thương tích.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của các bị cáo Phạm Văn H, Trần Văn T, Trần Minh T6, Bùi Quý D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, g khoản 1 Điều 134 BLHS. Tuy nhiên, trong vụ án này các bị cáo đều phạm tội trong trường hợp đang chấp hành các Bản án có hiệu lực pháp luật, đều đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng, tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”, nên lần phạm tội này các bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, như Quyết định truy tố và luận tội của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt tại Trại giam S - Bộ C1, các bị cáo là những phạm nhân đang chấp hành án đã có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của phạm nhân khác gây tổn hại 02% sức khỏe.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Vụ án xảy ra tại Trại giam S - Bộ C1 là nơi các phạm nhân đang cải tạo làm mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang, lo sợ đối với các phạm nhân khác, nên cần phải xét xử nghiêm minh để giáo dục cải tạo đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[2.3]Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm mà đều mang tính bột phát. Bị cáo Phạm Văn H là người chủ động đi tìm phạm nhân T4 để giải quyết mâu thuẫn, dùng cát trát vào mặt, dùng chân tay đấm đá T4 nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo Trần Văn T có hành vi dùng các cục bê tông nhỏ đựng trong chiếc tất đập vào đầu và người T4 nên giữ vai trò thứ hai. Bị cáo Trần Minh T6 dùng tay chân đánh T4 nên giữ vai trò thứ ba. Bị cáo Bùi Quý D ban đầu định can ngăn, nhưng khi thấy thái độ của T4 đã dùng chân đạp T4 nên giữ vai trò cuối cùng trong vụ án.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
8
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; tại phiên tòa người bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo 01 phần hình phạt. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo 01 phần hình phạt, để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Về nhân thân: các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Trần Văn T, Trần Minh T6 và Bùi Quý D hiện đang chấp hành án tại Trại giam S - Bộ C2. Vì vậy, áp dụng khoản 2 Điều 56 BLHS buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án này để đưa ra hình phạt chung của 02 bản án đối với các bị cáo.
[2.5] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của người bị hại, nên chấp nhận.
[2.6] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc tất chân bằng vải màu đen, bên trên có dòng chữ MINISO màu trắng, tất bị thủng một lỗ, đã qua sử dụng và 05 cục bê tông không rõ hình dạng và có kích thước khác nhau là vật chứng thu giữ trong vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[2.7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 BLHS (đối với bị cáo Phạm Văn H). Điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 38 BLHS (đối với bị cáo Trần Văn T và Trần Minh T6). Điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 39 BLHS (đối với bị cáo Bùi Quý D). Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: các bị cáo Phạm Văn H, Trần Văn T, Trần Minh T6 và Bùi Quý D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/10/2024).
- - Bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án HSST số 09/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 (tám) năm
9
- tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt truy nã (ngày 31/8/2020) của bản án trước (bản án HSST số 09/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).
- - Bị cáo Trần Minh T6 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án HSST số 126/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt khẩn cấp (ngày 06/6/2022) của bản án trước (bản án HSST số 126/2022/HS-ST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).
- - Bị cáo Bùi Quý D 02 (hai) năm tù, tổng hợp với hình phạt của bản án HSST số 31/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 26/12/2020) của bản án trước (bản án HSST số 31/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình).
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại về không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ trong vụ án, gồm 01 chiếc tất chân bằng vải màu đen, đã qua sử dụng và 05 cục bê tông không rõ hình dạng, kích thước khác nhau.
Vật chứng hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 09/2025/TV-CTHADS ngày 29/10/2024.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 121/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 121/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
