Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/HS-ST

Ngày: 05 - 3 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo

2. Ông Cao Quốc Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Minh T, sinh năm 1988 tại Vĩnh Long; CCCD: [...]; Nơi thường trú: Số nhà H Tổ E, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Bùi Minh Đ; Mẹ: Nguyễn Thị Ú; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Chị Trần Thị Cẩm T1, sinh năm 1999;

Địa chỉ: 1 Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30/4/2024, Bùi Minh T khi đang đi bộ đến khu vực khu nhà trọ địa chỉ số A Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. T quan sát thấy dãy trọ không khóa cổng nên đi bộ vào bên trong tìm kiếm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đến trước phòng trọ không số, T phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5 màu đỏ đen, biển số 59X2-594.42 dựng bên ngoài, không khóa cổ, không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp làm phương tiện đi lại. Sau đó, T dắt bộ xe ra khỏi dãy trọ về hướng đường Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T. Lúc này, chị Nguyễn Thị Cẩm T2 nghe tiếng động bên ngoài nên chạy ra xem thì phát hiện xe mô tô biển số 59X2-594.42 của chị bị mất trộm, sau đó chị T2 đuổi theo đến trước số nhà A Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường B, thành phố T thì phát hiện T đang dắt xe của chị T2 đi được khoảng 500m về hướng đường T, chị T2 liên tri hô “cướp cướp”, T bỏ lại xe mô tô và tẩu thoát. Sau đó, chị T2 quay về phòng trọ lấy chìa khóa xe mô tô, nổ máy và tiếp tục truy đuổi T đến trước số nhà A Tỉnh lộ 43, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cũng người dân bắt giữ được T giao Công an phường B xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bùi Minh T khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Kết luận định giá tài sản số 86-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5, biển số 59X2-594.42, số máy: 1DB1-215021; số khung: 10DY 215008 có trị giá: 4.900.000 (Bốn triệu chín trăm nghìn) đồng.

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) USB màu trắng chứa 01 đoạn video ghi nhận nội dung sự việc.
  • - 01 áo khoác Jean màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ (thu giữ của Bùi Minh T)
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5, biển số 59X2-594.42, số máy: 1DB1-215021; số khung: 10DY-215008 do Lê Văn T3 (sinh năm 1993; Nơi thường trú: số D đường số B, Khu phố B, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) mua tháng 01/2014 và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2021 anh T3 bán lại xe mô tô trên cho chị Trần Thị Cẩm T1, khi mua bán chưa làm thủ tục sang tên. Chị T1 sử dụng chiếc xe mô tô trên đến ngày 30/4/2024 thì bị Bùi Minh T chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Trần Thị Cẩm T1 là chủ sở hữu.

- Vê trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Cẩm T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì khác.

Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKSTPTĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Bùi Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Minh T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Vê xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vê tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vê nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Minh T phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30/4/2024, tại khu nhà trọ địa chỉ số A Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Minh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5 màu đỏ đen, biển số 59X2 594.42 của chị Trần Thị Mỹ T4 trị giá 4.900.000 (Bốn triệu chín trăm nghìn) đồng.

Hành vi của Bùi Minh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Bùi Minh T về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

[3] Vê tình tiết định khung hình phạt:

Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt 4.900.000 (Bốn triệu chín trăm nghìn) đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điêu 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Minh T không có tình tiết tăng nặng.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lân đâu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo T phải chịu.

[6] Vê tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì cần phương tiện đi lại nên đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7]. Vê hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo Bùi Minh T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Bùi Minh T không có công việc ổn định, không có điều kiện kinh tế để thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Vê trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị Mỹ T4 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Vê vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) USB màu trắng chứa 01 đoạn video ghi nhận nội dung sự việc. Lưu hồ sơ vụ án.
  • - 01 áo khoác Jean màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ (thu giữ của Bùi Minh T). Xét thấy các đồ vật nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo 5, biển số 59X2-594.42, số máy: 1DB1-215021; số khung: 10DY-215008 do Lê Văn T3 (sinh năm 1993; Nơi thường trú: Số D đường số B, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) mua tháng 01/2014 và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2021 anh T3 bán lại xe mô tô trên cho chị Trần Thị Cẩm T1, khi mua bán chưa làm thủ tục sang tên. Chị T1 sử dụng chiếc xe mô tô trên đến ngày 30/4/2024 thì bị Bùi Minh T chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Trần Thị Cẩm T1 là chủ sở hữu. Xét việc trả lại tài sản nêu trên là hợp pháp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Vê quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Bùi Minh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.
  • - Vê xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • + Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu trắng chứa 01 đoạn video ghi nhận nội dung sự việc.
  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 áo khoác Jean màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ (thu giữ của Bùi Minh T).

(Theo Phiếu nhập kho số NK NK25/145C ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

  • - Vê án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Minh T nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  • - Vê quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo Bùi Minh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 121/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger