TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
| CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 6 - 2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Trần Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Khánh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 22/TB-TLVA ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2025/QĐXX-ST ngày 11/6/2025; Quyết định hoãn và ấn định thời gian mở lại phiên tòa số 79/2025/QĐ-ST ngày 18/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1987. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Hungary. Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Chị Hồ Thị N, sinh năm 1997. Địa chỉ: Xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Đề nghị xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn L và chị Hồ Thị N quen biết nhau từ năm 2017, trải qua quá trình bạn bè rồi yêu thương, anh chị quyết định tiến đến hôn nhân. Ngày 14/11/2018, anh L chị N đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh . Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật và được anh chị tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với bố mẹ anh L tại xã C, huyện C. Cuộc sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2019, anh chị cùng đi lao động tại Đài Loan. Tại Đài Loan, do công việc khác nhau và nơi làm việc xa nhau nên vợ chồng không sống chung mà thỉnh thoảng mới gặp nhau. Năm 2021, anh L về nước và sau đó lại đi lao động tại Hungary còn chị N vẫn ở lại Đài Loan. Cuối năm 2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau nên ít có thời gian gần gũi, chăm sóc nên tình cảm phai nhạt. Từ đầu năm 2022 đến nay, vợ chồng không liên lạc với nhau, mỗi người tự lo cuộc sống, có tình cảm riêng. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân trên danh nghĩa nên giữa tháng 12/2024, anh L về Việt Nam để hoàn thiện thủ tục ly hôn với chị N, anh L làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hồ Thị N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Hoàng Văn K, sinh ngày 05/02/2019. Hiện nay con chung đang do bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ chị N, địa chỉ: Xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L yêu cầu giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị N chưa về nước anh đồng ý để bà Nguyễn Thị V thay chị N chăm sóc con chung. Anh L tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị hồ Thị N có quan điểm như sau:
Chị N hiện đang làm việc tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể do công việc không ổn định, thường xuyên phải thay đổi địa chỉ. Chị đã được mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị V thông tin về yêu cầu ly hôn của anh Hoàng Văn L. Về tình cảm: Chị N nhất trí ly hôn với anh Hoàng Văn L. Về con chung: Chị N nhất trí với nguyện vọng của anh Hoàng Văn L về việc để chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Văn K, sinh ngày 05/02/2019 và anh L tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000đồng/tháng tiền nuôi con chung kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian chị N làm việc tại nước ngoài, chị N nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1979, địa chỉ: Xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thay chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Văn K cho đến khi chị N về nước. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện tại, chị N đang làm việc tại nước ngoài nên chị đề nghị vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ủy quyền giao nhận toàn bộ các tài liệu chứng cứ của Tòa án cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị V và thông tin lại cho chị N kịp thời để việc giải quyết vụ án được nhanh chóng và thuận lợi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể:
- Về tình cảm: Anh Hoàng Văn L được ly hôn chị Hồ Thị N.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Văn K, sinh ngày 05/02/2019 cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hoàng Văn L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
- Về án phí: Anh Hoàng Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại thời điểm thụ lý vụ án chị Hồ Thị N đang sinh sống và lao động tại nước ngoài. Tại Công văn số 161/QLXNC-Đ1, ngày 20/02/2025 của Phòng Q Công an tỉnh H, xác nhận thông tin: Chị Hồ Thị N xuất cảnh ngày 11/11/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài do có bị đơn đang lao động tại nước ngoài. Căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5, Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2] Chị Hồ Thị N đã ủy quyền giao nhận các tài liệu chứng cứ của Tòa án cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1979, địa chỉ: Xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu của tòa án cho bị đơn là chị Hồ Thị N thông qua bà Nguyễn Thị V và nhắn tin cho chị Hồ Thị N về thời gian có mặt để giải quyết vụ án trên trang VOV5 Đài tiếng nói Việt Nam từ ngày 20 đến ngày 22/5/2025.
[1.3] Chị Hồ Thị N đang sinh sống và lao động tại nước ngoài, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của chị N tại nước ngoài thông qua người thân của chị N để thông báo về việc thụ lý giải quyết vụ án và nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng chị Hồ Thị N không cung cấp địa chỉ và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao vụ án thuộc trường hợp bị đơn cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đưa vụ án ra xét xử theo quy định thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh L chị N tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 14/11/2018 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với bố mẹ anh L tại xã C, huyện C. Cuộc sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2019 cả hai cùng nhau đi lao động tại Đài Loan. Tại Đài Loan, do công việc khác nhau và nơi làm việc xa nhau nên vợ chồng không sống chung mà thỉnh thoảng mới gặp nhau. Năm 2021, anh L về nước và sau đó lại đi lao động tại H còn chị N vẫn ở lại Đài Loan. Cuối năm 2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau nên ít có thời gian gần gũi, chăm sóc nên tình cảm phai nhạt. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng không liên lạc với nhau, mỗi người tự lo cuộc sống và có tình cảm riêng. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân trên danh nghĩa nên giữa tháng 12/2024, anh L về Việt Nam để hoàn thiện thủ tục ly hôn với chị N. Nay anh L làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho vợ chồng được ly hôn và chị N cũng nhất trí ly hôn nên cần chấp nhận để anh chị ly hôn.
[2.2] Về quan hệ con chung:
Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Văn K, sinh ngày 05/02/2019. Xét thấy, hiện tại con chung Hoàng Văn K hiện đang do bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ chị N, địa chỉ: xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L và chị N đều thống nhất giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian chị N chưa về nước tạm giao cho bà Nguyễn Thị V thay chị N chăm sóc con chung. Anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Vì vậy, giao con chung là cháu Hoàng Văn K cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hoàng Văn L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Hoàng Văn L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn L được ly hôn chị Hồ Thị N.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Văn K, sinh ngày 05/02/2019 cho chị Hồ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Hoàng Văn L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án miễn xét.
- Về án phí: Anh Hoàng Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng anh L đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số [...] ngày 11/02/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Hoàng Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |
5
Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoang Van L - Ho Thi N
