Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/3/2025

“V/v: Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Luyến; Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 490/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/2/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 05/QĐST-HNGĐ ngày 11/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên Đơn: Chị Đinh Thị T – sinh năm 1987. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

    Nơi thường trú: Xóm 4, thôn Khôn Duy, xã Mỹ Lương, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

    Nơi ở: Số nhà 120/292 Lạch Tray, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1976. Vắng mặt.

    Nơi thường trú: Xóm D, thôn K, xã M, huyện C, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, ý kiến tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Đinh Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/9/2008 tại UBND xã M, huyện C, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị vào S làm ăn được một thời gian thì đến năm 2016 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H cờ bạc và đánh chị, từ tháng 7 năm 2017 chị không chịu được sự đánh đập nữa nên vợ chồng sống ly thân đến nay, vợ chồng chị không còn quan tâm, không liên lạc với nhau. Do mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị ngày càng trở nên trầm trọng, không tìm được tiếng nói chung, không có khả năng hàn gắn do sống ly thân thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị với anh H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009, cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011; cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015. Khi ly hôn chị xin được nuôi cả ba con chung nhưng nếu anh H cũng có nguyện vọng nuôi con thì chị xin nuôi hai cháu C và cháu H1, không đề nghị cấp dưỡng nuôi con. Nếu chị được nuôi con thì chị cũng nhờ mẹ đẻ trông nom, chăm sóc giúp chị để chị yên tâm đi làm nuôi con.

Trước khi mở phiên tòa, chị T có đơn trình bày đề nghị thay đổi nguyện vọng nuôi con vì hoàn cảnh gia đình thay đổi, mẹ chồng chị vừa mới chết; các con chị sợ bố đánh nếu đi theo chị nên chị T đề nghị được nuôi cháu lớn là cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009; đồng ý để anh H trực tiếp nuôi các cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011 và cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015. Chị T hỗ trợ anh H chu cấp nuôi hai cháu nhỏ.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị đang đi làm ở xa không thuận tiện cho việc đi lại nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị, các văn bản tố tụng của Tòa gửi về địa chỉ số A L, Kênh D, quận L, Thành phố Hải Phòng.

* Bị đơn – Anh Nguyễn Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị T đã bỏ đi từ lâu, vợ chồng không còn liên lạc với nhau, anh cũng không còn quan tâm gì đến chị T nữa. Chị T có đơn xin ly hôn, anh không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị T, anh không lên Tòa giải quyết.

Về con chung: Anh và chị T có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh năm 2009, cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 2011; cháu Nguyễn Ngọc K, sinh năm 2015. Cả 3 con đang ở cùng anh. Nếu ly hôn thì anh xin được tiếp tục nuôi cả 3 con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định, anh không còn quan tâm gì đến chị T nên không đến Tòa án làm việc.

Bà Đinh Thị T1 – mẹ đẻ chị Đinh Thị T trình bày: Chị T và anh H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn, được hai gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục truyền thống. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T sống cùng gia đình anh H ở cùng thôn, trong quá trình chung sống hai vợ chồng chị T thường xảy ra mâu thuẫn do anh H mải chơi, thường xuyên đánh chị T. Khoảng 6 năm nay chị T đã phải bỏ ra ngoài sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị T có đơn xin ly hôn với anh H thì đề nghị Tòa giải quyết cho chị T được ly hôn. Chị T và anh H có 3 con chung, nếu chị T được nuôi con thì gia đình bà sẽ hỗ trợ chị T về chỗ ở và chăm sóc các cháu giúp chị T để chị T đi làm nuôi con.

* Xác minh tại UBND xã M: Chị T và anh H đăng ký kết hôn ngày 18/9/2008 tại UBND xã M. Quá trình chung sống vợ chồng anh H, chị T có xảy ra mâu thuẫn không hay mâu thuẫn do nguyên nhân gì thì chính quyền địa phương không biết nhưng qua nắm bắt thông tin thì được biết chị T đã bỏ đi khoảng 5-6 năm nay, không ở cùng anh H, vợ chồng sống ly thân. Chị T và anh H có 3 con chung. Chị T có đơn xin ly hôn anh H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Nguyện vọng của con chung: Cháu Nguyễn Thị Thùy C, cháu Nguyễn Ngọc H1, cháu Nguyễn Ngọc K đều có nguyện vọng ở với mẹ là chị Đinh Thị T.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị đơn không chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ.

+ Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho chị T được ly hôn anh H. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011; cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015 cho anh Nguyễn Văn H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng: Anh H, chị T không đề nghị cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị xem xét. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền: Chị Đinh Thị T có đơn khởi kiện đối với anh Nguyễn Văn H về việc xin ly hôn, nuôi con chung sau ly hôn, nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn – Anh H có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại xã M, huyện C, Thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của Nguyên đơn – Chị Đinh Thị T: Do chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

[1.3]. Về sự vắng mặt của Bị đơn – Anh Nguyễn Văn H: Do anh H vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt của anh H.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/9/2008 tại UBND xã M, huyện C, Thành phố Hà Nội, tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.

Chị T xin ly hôn anh H với lý do vợ chồng mâu thuẫn do anh H mải chơi, thường xuyên đánh chị nên vợ chồng sống ly thân khoảng 6 năm nay. Chị T đã đi làm ăn xa, vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, chị xác định không còn khả năng hàn gắn do không còn tình cảm; anh H cũng xác nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị T đã bỏ đi từ lâu, vợ chồng không còn liên lạc, anh H cũng không quan tâm đến chị T nữa nên không đến Tòa làm việc, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Như vậy chị T kiên quyết xin ly hôn do vợ chồng sống ly thân lâu nên không còn tình cảm, anh H cũng không có thiện chí hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ và cũng xác định không còn quan tâm gì đến chị T. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã trầm trọng, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế đã sống ly thân nhau 6-7 năm; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị T được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh H có 03 con chung cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009, cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011; cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015.

Xét nghĩa vụ nuôi con chung sau khi ly hôn thì thấy: Chị T và anh H đều có nguyện vọng nuôi con chung, hiện cả 3 con chung đang ở cùng anh H. Các cháu đều có nguyện vọng ở với chị T. Cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009, tính đến ngày xét xử cháu C đã hơn 16 tuổi có khả năng nhận thức và tự lập; 02 cháu H1 và cháu K còn nhỏ nên cần có môi trường sinh hoạt ổn định. Vì vậy, để ổn định cuộc sống, học tập và phát triển của các con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009 cho chị T; giao cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011 và cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015 cho anh H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hợp lý.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị T, anh H đều không đề nghị cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T, anh H cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác.

[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

  1. Chị Đinh Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Chị T và anh H có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009, cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011; cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015.

    Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy C, sinh ngày 23/10/2009 cho chị Đinh Thị T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

    Giao các con chung là cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/4/2011 và cháu Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 20/1/2015 cho anh Nguyễn Văn H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

    Chị Đinh Thị T, anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T, anh H không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T, anh H cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác.
  4. Về án phí: Chị Đinh Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; được đối trừ với 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo “Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số 0061975 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ ngày 05/11/2024.

Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - UBND xã Mỹ Lương (Số 44/2008);
  • - Lưu: Hồ sơ /V.phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hà

Phạm Tiến Lợi

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T xin ly hôn với anh H và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger