TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2025
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thuỳ Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Ông Lý Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 993/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 386/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh X năm 1982; HKTT: số F ngách B V, phường L, quận Đ, thành phố H ở hiện tại: Số A, đường T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội
- Bị đơn: Anh Lò Trung K năm 1980; HKTT: số F ngách B V, phường L, quận Đ, thành phố H ở hiện tại: số A L, phường Ô, quận Đ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện; Bản tự khai và các văn bản trình bày tiếp theo tại Tòa nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Thanh X1 trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Lò T K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Y, quận C, thành phố H 03/12/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ Số F ngách B V, phường L, quận Đ, thành phố H khoảng tháng 7/2024, chị chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân.
Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lò T K.
- Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là cháu Lò Quốc M, sinh ngày 02/12/2005 và cháu Lò Q M1sinh ngày 14/01/2015. Ly hôn, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu M1 Cháu M đã trưởng thành, chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Vay nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Ngoài những vấn đề trên, bà không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
* Tại các biên bản làm việc tại Toà án bị đơn – anh Lò Trung K1 trình bày:
- Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Thị Thanh X1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Y, quận C, thành phố H 03/12/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ Số F ngách B V, phường L, quận Đ, thành phố H khoảng tháng 7/2024, chị X2 về nhà bố mẹ đẻ, còn anh vẫn sinh sống tại địa chỉ trên. Anh nhận thấy cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc, giữa anh chị không có mâu thuẫn gì lớn. Nguyên nhân chỉ là do vợ chồng thiếu sự chia sẻ.
Anh xác định vẫn còn tình cảm với chị X, đề nghị Toà án hoà giải cho anh chị đoàn tụ.
- Về con chung: Anh và chị X có 02 con chung là cháu Lò Quốc M, sinh ngày 02/12/2005 và cháu Lò Q M1sinh ngày 14/01/2015. Ly hôn, anh tôn trọng ý kiến của cháu M1đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của con chung. Cháu M đã trưởng thành, anh không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Vay nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
- Về tình cảm: Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn anh Lò T K.
- Về con chung: Chị X3 cầu Toà án giải quyết cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lò Q M1. Về vấn đề cấp dưỡng: Chị X4 yêu cầu anh Kcấp D nuôi con chung.
- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị X không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn có ý kiến:
- Về tình cảm: Anh Kxác định vẫn còn tình cảm với chị X9 không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, nếu chị X5 quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Anh K2 ý kiến khi ly hôn ai nuôi con chung cũng được nhưng phải để hai con chung ở cùng với nhau.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh K9 yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm ý kiến:
Tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử ngày hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự tố tụng mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
Nội dung: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 24, Điều 37, Điều 56, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326 về án phí lệ phí: Đề nghị HĐXX:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị X6 với anh KChị X7 ly hôn anh K
- Về con chung: Giao cháu Lò Q M1sinh ngày 14/01/2015 cho chị X8 tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh KCòn cháu Lò Quốc M, sinh ngày 02/12/2005 đã trưởng thành nên không xét.
- Về tài sản chung (động sản, bất động sản) và nợ chung: Do chị X9 anh K9 yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Án phí: Chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về tố tụng
Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Thanh X9 anh Lò T K là ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền: Bị đơn – anh Lò T K có hộ khẩu thường trú tại số F ngách B V, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội và hiện đang cư trú tại địa chỉ số A L, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền.
Thủ tục: Thời điểm nộp đơn, chị Nguyễn Thị Thanh X9 anh Lò Trung K3 đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc công nhận thuận tình ly hôn và đã được Toà án thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, quá trình giải quyết tại Toà án, anh K4 đổi ý kiến, không đồng ý ly hôn; chị X10 giữ nguyên ý kiến yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Vì vậy, căn cứ khoản 5 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết.
II. Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, lời khai của chị X11 K và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Chị X9 anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, Thành phố H 03/12/2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 207 quyển số 02 của UBND phường Y. Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, xác nhận hôn nhân giữa chị X9 anh K là hợp pháp.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa thể hiện: Chị X9 anh K5 từng kết hôn với nhau từ năm 2005, sau đó anh chị ly hôn và kết hôn lại vào năm 2013. Quá trình anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị X12 bày là do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp; theo anh K6 bày là do vợ chồng thiếu sự chia sẻ. Từ khoảng tháng 7/2024, anh chị đã sống ly thân với nhau.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, cùng chăm lo đời sống kinh tế chung của gia đình. Thực tế, anh chị đã từng kết hôn với nhau, sau đó ly hôn và kết hôn lại vào năm 2013. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa anh chị vẫn phát sinh mâu thuẫn nên anh chị đã làm đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn gửi Toà án. Quá trình giải quyết tại Toà án, anh K4 đổi ý kiến, không đồng ý ly hôn và đề nghị Toà án hoà giải đoàn tụ cho vợ chồng. Toà án đã hoà giải nhưng chị X10 kiên quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn của anh chị đã rất trầm trọng. Từ khoảng tháng 7/2024, chị X đã chuyển ra khỏi nhà, sống ly thân với anh K. Cho đến thời điểm hiện tại, anh chị vẫn sống ly thân với nhau. Như vậy khẳng định giữa chị X9 anh K không còn tồn tại cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Chị X khởi kiện xin ly hôn, tại phiên tòa hôm nay anh K7 ý ly hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X13
[2]. Về con chung: Chị X9 anh K có 02 con chung là Lò Quốc M, sinh ngày 02/12/2005 và Lò Quang M1sinh ngày 14/01/2015. Ly hôn, chị X3 cầu Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M1và không yêu cầu anh Kcấp D nuôi con chung. Cháu M đã trưởng thành, chị X4 yêu cầu giải quyết. Anh K8 cầu Toà án giải quyết theo hướng: khi ly hôn, ai nuôi con chung cũng được nhưng phải để hai con chung cùng sống với nhau, anh Ktôn trọng ý kiến, nguyện vọng của con chung. Tại Đơn nguyện vọng ghi ngày 22/12/2024, cháu Lò Q M1trình bày nguyện vọng xin được ở cùng với mẹ.
HĐXX nhận định: Xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, HĐXX nhận thấy chị X14 việc làm, có thu nhập ổn đinh. Hiện tại, chị X15 nhân viên ngân hàng N thu nhập trung bình hàng tháng là 42.700.000 đồng. Chị X14 nơi ở cố định là nhà của bố mẹ đẻ chị X16 số A, ngõ B T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Đối với anh Kanh K9 giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ chứng minh về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con chung nên không có cơ sở để xem xét.
Xét nguyện vọng của cháu M1theo đơn của cháu, cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị Nguyễn Thị Thanh X1
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của chị Xđề nghị HĐXX giải quyết cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ml và xét ý kiến của anh K về vấn đề con chung, HĐXX quyết định giao cháu Lò Q M1cho chị X8 tiếp nuôi dưỡng. Việc giao cháu M1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu M1, phù hợp với ý kiến của các bên đương sự và phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh K10 quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Đối với cháu Lò Quốc M, cháu M đã đủ tuổi trưởng thành, chị X9 anh K9 yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác nên HĐXX không xem xét.
Về vấn đề cấp dưỡng: Do chị X4 yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh K
[3]. Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị X11 K không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[4]. Về nợ chung: Chị X11 K không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5]. Về án phí: Chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh X1 đối với anh Lò T K.
Chị Nguyễn Thị Thanh X1 được ly hôn anh Lò T К.
- Con chung: Xác nhận chị X9 anh K có 02 con chung là cháu Lò Quốc M, sinh ngày 02/12/2005 đã trưởng thành và cháu Lò Q M1sinh ngày 14/01/2015.
Giao cháu Lò Q M1cho chị X8 tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh K11 đến khi chị X14 yêu cầu hoặc khi có quyết định có hiệu lực pháp luật khác thay thế.
Anh K10 quyền đi lại thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị X11 K không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xét.
- Nợ chung: Chị X11 K không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị X đã nộp trực tuyến vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số [...] ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Công ty cổ phần T.
Chị Xanh K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thùy Dương |
Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn.
- Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
