TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *************** |
Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07/3/2025
V/v xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Chu Thị Tuyết .
- Ông Đặng Như Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Kiểm sát viên
Trong ngày 07/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 426/2024/TLST - HNGĐ ngày 14/10/2024 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/2/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/2/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N (tức Nguyễn Thị Mai N), sinh năm 1971
Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà
- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh Q, sinh năm 1965 – Vắng mặt
Cùng HKTT và chỗ ở hiện nay: Căn hộ chung cư số 12B19 nhà R2b, G N, phường T, quận T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Anh Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/3/1992 tại UBND phường T, quận H, Hà Nội.
Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2012 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp. Bản thân vợ chồng đã có nhiều cố gắng để khắc phục mâu thuẫn, bạn bè và gia đình hai bên cũng khuyên nhủ nhiều nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vẫn xảy ra và ngày càng trầm trọng. Vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Mặc dù sống chung một mái nhà nhưng mỗi người ở một phòng, không ăn chung, không ngủ chung, việc ai người đó làm, vợ chồng không quan tâm đến nhau.
Đến nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng từ lâu không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên bà tha thiết xin được ly hôn ông Q. Bà đã trao đổi việc ly hôn với ông Q nhiều lần nhưng ông Q không hợp tác. Ông Q nói bà thích ly hôn thì tự làm thủ tục và ông Q sẽ không đến Toà án làm việc và không có ý kiến gì.
Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên là Nguyễn Thu H (nữ), sinh ngày 14/3/1993. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.
Về tài sản: Vợ chồng bà không có tài sản chung, không có nợ chung. Bà không đề nghị Toà án giải quyết về tài sản.
Bố mẹ hai bên hiện nay chỉ còn mẹ đẻ của bà và mẹ đẻ của ông Q. Hai bà đều đã già yếu nên bà đề nghị Toà án không lấy lời khai của hai bà.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Q đều vắng mặt không có lý do và không có bất cứ ý kiến gì gửi Toà án.
Toà án tiến hành lấy lời khai của con chung là chị Nguyễn Thu H, sinh ngày 14/3/1993, chị H trình bày: Quá trình chung sống với bố mẹ, chị thấy bố mẹ không có hạnh phúc. Bố mẹ chị thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Thời gian gần đây thì chuyển sang chiến tranh lạnh, không cãi vã ồn ào nhưng không nói chuyện với nhau, việc ai người ấy làm, không quan tâm đến nhau và sống ly thân hơn chục năm nay, không ăn chung ngủ chung.
Chị cảm thấy không khí gia đình vô cùng ngột ngạt, căng thẳng, khiến chị rất buồn chán và áp lực.
Nay mẹ chị xin ly hôn, quan điểm của chị là bố mẹ có cuộc sống không hòa hợp, hạnh phúc thì nên ly hôn để giải phóng cho nhau. Do bận việc cá nhân nên chị xin được vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa và tại phiên tòa.
Tòa án tiến hành làm việc với tổ trưởng tổ C, phường T, quận T, Hà Nội, được ông Nguyễn Tiến D cung cấp như sau: Vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Anh Q sinh sống tại căn hộ số 12B19 R2B Royal city - G N, phường T, quận T, Hà Nội, vợ chồng có mâu thuẫn gì hay không, ông không nắm được. Ông không thấy vợ chồng báo cáo gì.
Tại phiên toà:
Phiên toà lần 1 (ngày 27/2/2025) bà N vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Q vắng mặt không có lý do, Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bà N vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Q tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Thẩm phán, Thư ký) và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên toà. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà N, cho bà N được ly hôn ông Q. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Về tài sản, đương sự không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, bà N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được công khai tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
Đối với sự vắng mặt của bị đơn. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt. Phiên toà lần 1 bị đơn vắng mặt. Toà án đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vẫn vắng mặt, do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Đối với sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/3/1992 tại UBND phường T, quận H, Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy: Theo lời khai của bà N, chị H thì quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống không hoà hợp. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, không ai quan tâm đến ai.
Nay bà N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng từ lâu không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên bà tha thiết xin được ly hôn ông Q. Mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Q đều vắng mặt không có lý do và không có bất cứ ý kiến gì gửi Toà án, điều đó cho thấy ông Q là người vô trách nhiệm với cuộc hôn nhân của mình.
Như vậy, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N đối với ông Q.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Thu H (nữ), sinh ngày 14/3/1993. Con chung hiện đã ở tuổi trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, ở với ai là quyền của con chung.
Về tài sản: Đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên Tòa không xem xét.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N (tức Nguyễn Thị Mai N) đối với ông Nguyễn Anh Q. Bà Nguyễn Thị N (tức Nguyễn Thị Mai N) được ly hôn ông Nguyễn Anh Q.
2. Về con chung: Bà N và ông Q có một con chung là Nguyễn Thu H (nữ), sinh ngày 14/3/1993. Hiện con chung đã ở tuổi trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.
3. Về tài sản: Không xem xét
4. Về án phí: Bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ với 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp tại biên lai số 0036523 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Bà N, ông Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội về xin ly hôn
- Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
