|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2025/DS-PT
Ngày: 04/4/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương
Ông Nguyễn Đình Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình T - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07, 31 tháng 3 năm 2025 và ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 399/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai bị kháng nghị và có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn:
- Ông Đoàn B, sinh năm 1959 và Bà Lê Thị T1, sinh năm 1960. Cùng địa chỉ: ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Đoàn Thị S, sinh năm 1949. Địa chỉ: số F, tổ F, ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền cho bà Đoàn Thị S: Bà Trần Thị H, sinh năm 1972 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: tổ F, ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (có mặt);
- Người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp cho bà Đoàn Thị S: Ông Phương Văn T2 – Văn phòng Luật sư Phương Gia T3 Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt);
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đoàn Văn Q, sinh năm 1989 (có Đơn xin xét xử vắng mặt); Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1999. Bà Đoàn H2, sinh năm 1991 (có Đơn xin xét xử vắng mặt). Bà Ong Thị Kim C, sinh năm 1985. Ông Trần Văn H3, sinh năm 1981. Cùng địa chỉ: tổ G, ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Đoàn Văn H4, sinh năm 1987. Địa chỉ: 2, đường A, phường T, TP T, TP Hồ Chí Minh (có Đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Đoàn Thị P, sinh năm 1983. Địa chỉ: tổ A, ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
- Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn ông Đoàn B do ông Ngô Văn D trình bày:
Chính thức vào năm 1979 gia đình ông Đoàn B có chuyển nhượng của ông Trần Văn T4 diện tích đất 914,0m², tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 74, tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, đến ngày 01/12/1999 cho Hộ ông Đoàn B được Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2011 ông B có nhu cầu làm nhà do thiếu đất làm khu vệ sinh phía sau nên ông có chuyển nhượng của ông Trần T5 và bà Đoàn Thị S 01 phần đất giáp liền với phần đất phía sau đất của gia đình ông chiều ngang 4m, chiều dài 23,41m. Tổng diện tích là 93,64m2, thuộc thửa đất số 168, tờ bản đồ số 84 đứng tên ông Trần T5, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu), các bên có đo đất và cắm cọc ranh đất chuyển nhượng và có làm giấy tay chuyển nhượng vào ngày 05/6/2015 có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân xã X vào ngày 07/7/2015.
Cho đến năm 2016 Nhà nước có chủ trương cho toàn dân đi kê khai điều chỉnh biến động đất nên ông cùng ông T5 cùng chỉ ranh đất và ký giáp ranh giữa đất ông và đất ông T5. Đến năm 2017 Hộ ông được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH 682136 ngày 06/7/2017 đối với diện tích là 947,2m², gia đình ông sử dụng ổn định không có ai tranh chấp. Đến năm 2020 ông muốn xây dựng bờ tường giữa ranh đất ông và ranh đất bà Đoàn Thị S thì gia đình bà S không đồng ý, bà cho rằng gia đình ông lấn đất của bà. Do các bên không hòa giải được nên ông đã có đơn gửi Ủy ban nhân dân xã X, nhưng không thành ông mới gửi đơn khởi kiện tại Tòa án huyện Xuân Lộc.
Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ đất tranh chấp, đến ngày 5/7/2021 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh X phát hành bản vẽ hiện trạng đất số: 2867/2021 thửa đất 167, tờ bản đồ số 74, diện tích đất 914,0m², tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, theo bản đồ địa chính và được giới hạn tại các điểm (1, a, b, c, d, 3, f, 5, -1) là 947,2 m², trên đất tranh chấp không có công trình hay tài sản gì.
Nay Hộ ông B, bà T1 yêu cầu buộc bà Đoàn Thị S phải giao trả cho ông B bà T1 diện tích 0,3m² giới hạn tại các điểm (c,d,3,e,-c) và diện tích 10,7m² giới hạn tại các điểm (3,f,5,e-3) tổng diện tích là 11m². Buộc bà Đoàn Thị S chấm dứt hành vi cản trở việc gia đình ông thực hiện quyền chủ sử dụng đất xây dựng hàng rào trong phạm vi đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 74 tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai của gia đình ông B, bà T1. .
Đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đoàn Thị S vì bên phía bị đơn không đưa ra được chứng cứ cũng như không có căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đoàn B.
Về chí phí tố tụng: Ông Đoàn B yêu cầu Tòa án xem xét các khoản chi phí tố tụng bao gồm các khoản tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, chi phí trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chi phí thẩm định giá tài sản theo quy định pháp luật. Tổng số tiền là: 25.585.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm tám mươi lăm ngàn). Ông B yêu cầu bà Đoàn Thị S phải trả toàn bộ cho ông các chi phí trên.
- Bị đơn bà Đoàn Thị S do bà Trần Thị H và bà Trần Thị H1 đại diện trình bày.
Qua yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn B thì đến ngày 22/3/2022 bà Đoàn Thị S có đơn yêu cầu phản tố và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn B với nội dung sau:
Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH.682.136 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06 tháng 7 năm 2017 cho Hộ ông Đoàn B, thuộc thửa số 167, tờ bản đồ số 74, ấp D, xã X, có diện tích được cấp 947,2m².
Theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 2867/2021, do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh X1 thực hiện, lập ngày 05/07/2021 có tọa độ cạnh từ (2=>3“mặt tiền đường quốc lộ 1”) là 23,89m (hai mươi ba phẩy tám mươi chín mét). Diện tích được cấp giấy số CH.682.136 là 947,2m².
Hồ sơ năm 1999, trước khi được cập nhật biến động năm 2017 là: Theo Bản đồ địa chính xã cập nhật: tọa độ cạnh từ (2=>3, “mặt tiền đường quốc lộ 1") là 22,81m.
Theo diện tích được cấp giấy số CH.06610 cấp cho Hộ ông Đoàn B ngày 01 tháng 12 năm 1999 là 914,0m². Từ đó đất của hộ ông Đoàn B có chiều gia tăng lên đến 33,2m². Từ năm 1998 đến nay, đất của bà và của gia đình ông Đoàn B, ranh liền kề, là một đường thẳng. Đất không bị sạt lở, không bị biến động với bất kỳ lý do nào. Vậy nguyên nhân nào đất hộ ông Đoàn B tăng 33,2m² ? Như vậy cho thấy đất của Hộ ông Đoàn B dư ra là do lấn chiếm ranh đất của gia đình bà.
Điều này đã chứng minh, năm 2017, hộ ông Đoàn B đã thực hiện gian lận, lấn chiếm đất của gia đình bà, đo vẽ không đúng thực trạng ranh đất. Chính vì vậy dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 682136 là 947,2m² cho Hộ ông Đoàn B là sai quy định.
Nay bà yêu cầu Quý Tòa xem xét giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã nêu trên, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho gia đình bà.
Gia đình bà không chấp nhận việc khởi kiện của Hộ ông Đoàn B. Yêu cầu quý Tòa bác đơn khởi kiện của ông Đoàn B và bà Lê Thị T1.
- Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Võ Văn V1 đại diện theo ủy quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ có văn bản trình bày:
Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 74, diện tích đất 914,0m², tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai được Ủy ban nhân dân huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 303010 ngày 01/12/1999 cho Hộ ông Đoàn B. Năm 2015 xã X đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính. Ngày 02/8/2016 ông Đoàn B kê khai đăng ký biến động cấp đổi giấy chứng nhận dạng đồng loạt, không kiểm tra, rà soát thực địa đối với thửa đất 167, tờ bản đồ số 74, diện tích đất 947,2m² (Theo hệ thống bản đồ địa chính mới).
Căn cứ khoản 5, Điều 98, 105 Luật Đất đai năm 2013; Điều 37, 76 Nghị định 43/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Căn cứ ý kiến xác nhận của Ủy ban nhân dân xã X ngày 09/5/2017 và tờ trình chỉnh lý biến động ngày 09/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã X. Sau khi thẩm định hồ sơ đủ điều kiện xét cấp đổi giấy chứng nhận, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- chi nhánh X1 trình cơ quan có thẩm quyền ký, cấp đổi giấy chứng nhận. Ngày 06/7/2017 Sở T ký xác nhận số phát hành CH 682136 thuộc thửa đất 167, tờ bản đồ số 74, diện tích đất 947,2m², xã X cho Hộ ông Đoàn B. Việc cấp đổi giấy chứng nhận cho Hộ ông Đoàn B theo đúng trình tự, thủ tục quy định.
- Ông Đinh Xuân M đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã X có văn bản trình bày:
Sau khi kiểm tra, rà soát hồ sơ địa chính lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- chi nhánh X1, Ủy ban nhân dân xã X, huyện X có ý kiến như sau:
- Hộ ông Đoàn B với thửa đất 167, tờ bản đồ số 74 (bản đồ cũ địa chính xã X)
- Hộ ông Trần T5 (chồng bà Đoàn Thị S) với thửa đất 168, tờ bản đồ số 74 (bản đồ cũ địa chính xã X).
Vị trí 02 thửa đất liền kề giáp ranh nhau. Tại thời điểm kê khai cấp đổi đồng loạt năm 2016, ranh giới giữa hai hộ không phát sinh tranh chấp. Dựa trên số liệu ranh giới thực tế sử dụng, Ủy ban nhân dân xã X đã thiết lập trình tự hồ sơ, cấp đổi chỉnh lý cho 02 hộ trên cụ thể:
- Thửa đất 167, tờ bản đồ số 64 (bản đồ cũ), có diện tích 914m², của Hộ ông Đoàn B cấp đổi thành thửa 167, tờ bản đồ (mới) số 64, có diện tích 947,2m² theo hiện trạng thực tế sử dụng và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ký cấp đổi giấy chứng nhận ngày 06/7/2017 số phát hành CH 682136.
- Thửa đất 168, tờ bản đồ số 64 (cũ), có diện tích 2673m², của Hộ ông Trần T5 và đo gộp nhiều thửa, cấp đổi thành thửa 785, tờ bản đồ (mới) số 64, có diện tích 9387,6m², theo hiện trạng thực tế sử dụng và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ký cấp đổi giấy chứng nhận ngày 12/7/2018 số phát hành CN 349418. Năm 2020 bà Đoàn Thị S nhận thừa kế theo văn bản phân chia thỏa thuận với thửa 785, tờ bản đồ (mới) số 64, có diện tích 9387,6m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi giấy chứng nhận ngày 19/9/2020 số phát hành CX 878372.
Tại thời điểm Ủy ban nhân dân xã X lập hồ sơ cấp đổi cho 02 hộ nêu trên, không có phát sinh tranh chấp về ranh đất. Sự việc tranh chấp phát sinh về sau khi được cấp đổi.
+ Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ; Ủy ban nhân dân xã X ; ông Đoàn Q, bà Đoàn Thị V, bà Đoàn H2, bà Ông Thị Kim C1, ông Trần Văn H3, ông Đoàn Văn H4, bà Đoàn Thị P không có yêu cầu khởi kiện độc lập trong vụ án và không bổ sung gì thêm.
- Ông Võ Văn V1 đại diện theo ủy quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ có văn bản trình bày:
- Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đoàn Thị S:
Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH.682.136 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06 tháng 7 năm 2017 cho Hộ ông Đoàn B, thuộc thửa số 167, tờ bản đồ số 74, ấp D, xã X, có diện tích được cấp 947,2m² (Chín trăm bốn mươi bảy phẩy hai mét vuông). Với lý do Hộ ông Đoàn B đã thực hiện gian lận, lấn chiếm đất của gia đình bà S, đo vẽ không đúng thực trạng ranh đất. Chính vì vậy dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 682136 là 947,2m² cho Hộ ông Đoàn B là sai quy định.
Nay là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đoàn Thị S ông yêu cầu Quý Tòa xem xét giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Hộ ông Đoàn B, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho gia đình bà S và không chấp nhận việc khởi kiện của Hộ ông Đoàn B. Yêu cầu quý Tòa bác đơn khởi kiện của ông Đoàn B và bà Lê Thị T1.
- Quyết định của cấp sơ thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã căn cứ:
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 69, Điều 228, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
- Căn cứ Điều 166, 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Căn cứ Điều 100, Điều 106 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hộ ông Đoàn B, bà Lê Thị T1.
- Buộc bà Đoàn Thị S, ông Trần Văn H3 và bà Ông Thị Kim C1 đang sinh sống trên thửa đất số 785 liền kề thửa đất 167 hoàn trả cho Hộ ông Đoàn B, bà Lê Thị T1, ông Đoàn Q, bà Đoàn Thị V, bà Đoàn H2, ông Đoàn Văn H4 và bà Đoàn Thị P diện tích đất do bà Đoàn Thị S chỉ dẫn lấn sang thửa 167 được giới hạn tại các mốc (3, f, 5, e, -3) có diện tích là 10,7m². (Đính kèm theo bản đồ hiện trạng).
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đoàn Thị S phải hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng cho nguyên đơn ông Đoàn B, bà Lê Thị T1 là: 25.585.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm tám mươi lăm ngàn).
- Về án phí: Bà Đoàn Thị S được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên việc thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
- Kháng cáo:
Ngày 05 tháng 10 năm 2024, bị đơn là bà Đoàn Thị S có Đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 63/2019/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo hướng yêu cầu chấp nhận phản tố của bị đơn hoặc nếu có vi phạm tố tụng, không thể khắc phục thì hủy toàn bộ bản án. Nội dung đơn kháng cáo: Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc tuyên án chưa đúng quy định của pháp luật, xác định đối tượng và chủ thế khởi kiện chưa đúng quy định, không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa đánh giá đầy đủ chứng cứ. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Trường hợp các vi phạm tố tụng mà cấp phúc thẩm không khắc phục được thì đề nghị huỷ án sơ thẩm.
- Kháng nghị:
Ngày 26/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc có văn bản số 434/QĐ-VKS-DS đề nghị phúc xử theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 63/2019/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Nội dung kháng nghị: Cần thu thập chứng cứ làm rõ việc thay đổi về kích thước thửa đất, chồng ghép bản đồ địa chính cũ và mới để xác định phần diện tích biến động tăng nằm ở vị trí nào, ranh giới giữa bản đồ cũ và bản đồ mới có khác gì nhau không, theo nội dung trình bày của Ủy ban nhân dân xã X thể hiện thửa đất 168, tờ bản đồ số 64 (cũ), có diện tích 2673m2, của Hộ ông Trần T5 và đo gộp nhiều thửa, cấp đổi thành thửa 785, tờ bản đồ (mới) số 64, có diện tích 9387,6m2, theo hiện trạng thực tế sử dụng và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ký cấp đổi giấy chứng nhận ngày 12/7/2018 số phát hành CN 349418. Như vậy khi đo gộp nhiều thửa đất như lời trình bày của đại diện UBND xã X nêu ở trên thì theo quy định thì đơn vị đo đạc phải lập biên bản ranh giới, mốc giới và phải có sự xác nhận của các chủ sử dụng đất liền kề (trong đó có chủ sử dụng đất của thửa đất số 67, tờ bản đồ số 74 là hộ ông Đoàn B), nhưng trong hồ sơ thì chưa được Toà án thu thập làm rõ.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị S và thay đổi kháng nghị của VKSND huyện Xuân Lộc, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
“Buộc bà Đoàn Thị S, ông Trần Văn H3 và bà Ông Thị Kim C1 đang sinh sống trên thửa đất số 785 liền kề thửa đất 167 hoàn trả cho Hộ ông Đoàn B, bà Lê Thị T1, ông Đoàn Q, bà Đoàn Thị V, bà Đoàn H2, ông Đoàn Văn H4 và bà Đoàn Thị P diện tích đất do bà Đoàn Thị S chỉ dẫn lấn sang thửa 167 được giới hạn tại các điểm (3, f, 5, e, -3) có diện tích là 10,7m² và các điểm (e, c, d, 3, e) có diện tích 0.3m². (Đính kèm theo bản đồ hiện trạng).
- Về kiến nghị: (không)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc và Đơn kháng cáo của bị đơn Đoàn Thi S1 (thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí) làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Xét nội dung Đơn kháng cáo của bà Đoàn Thị S và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Hội đồng xét xử xác định:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phản tố của bị đơn:
- Nguyên đơn ông B, bà T1 yêu cầu buộc bà Đoàn Thị S phải giao trả cho ông B bà T1 diện tích 0,3m² giới hạn tại các điểm (c,d,3,e,-c) và diện tích 10,7m² giới hạn tại các điểm (3,f,5,e-3) tổng diện tích là 11m². Buộc bà Đoàn Thị S chấm dứt hành vi cản trở việc gia đình ông thực hiện quyền chủ sử dụng đất xây dựng hàng rào trong phạm vi đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 74 tọa lạc tại xã X, huyện X "73" \o "Lộc,"Lộc, tỉnh Đồng Nai của gia đình ông B, bà T1. Đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đoàn Thị S vì bên phía bị đơn không đưa ra được chứng cứ cũng như không có căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đoàn B.
- Bị đơn bà Đoàn Thị S có yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa xem xét giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã nêu trên, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho gia đình bà. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Xét nguồn gốc đất:
- Thửa đất số 167 tờ bản đồ số 74 xã X được ông Đoàn B nhận chuyển nhượng năm 1980, ngày 01/12/1999 Ủy ban nhân dân huyện X cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 167 tờ bản đồ số 74 xã X cho hộ ông Đoàn B có diện tích là 914m². Năm 2011, ông B có nhận chuyển nhượng diện tích đất ngang 4m dài 23,41m (phần phía đuôi đất) của ông Trần T5 và bà Đoàn Thị S, việc chuyển nhượng 2 bên có làm giấy tay và đều thừa nhận. Năm 2015 xã X đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính. Ngày 02/8/2016 ông Đoàn B kê khai đăng ký biến động cấp đổi giấy chứng nhận dạng đồng loạt. Đến năm 2017 Hộ ông Đoàn B được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi thửa đất trên thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 682136 ngày 06/7/2017 có diện tích là 947,2m².
- Đối với thửa đất số 168, tờ bản đồ số 64 (cũ), có diện tích 2673m² là thửa đất liền kề giáp ranh với thửa đất số 167 tờ bản đồ số 74 xã X, được Ủy ban nhân dân huyện X cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/12/1999 cho hộ ông Trần Thiện. Năm 2015 xã X đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính nên thửa 168 được đo gộp nhiều thửa, cấp đổi thành thửa 785, tờ bản đồ (mới) số 64, có diện tích 9387,6m² và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/7/2018. Năm 2020 bà Đoàn Thị S nhận thừa kế theo văn bản phân chia thỏa thuận với thửa 785, tờ bản đồ (mới) số 64, có diện tích 9387,6m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi giấy chứng nhận ngày 19/9/2020 số phát hành CX 878372.
Như vậy, các thửa đất số 167 và 785, tờ bản đồ số 7 xã X đã được cấp giấy chứng nhận hợp pháp nên được công nhận hay nói cách khác là cả hai thửa đất đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng “chưa xác định ranh” giữa hai thửa 167 và thửa 168 (nay là thửa đất 785)
- Về quá trình sử dụng đất:
Hộ ông Đoàn B và bà Đoàn Thị S sử dụng đất ổn định đến năm 2020 ông B muốn xây hàng rào giáp ranh với đất của bà S nên mới phát sinh tranh chấp.
Tại sơ đồ địa chính thửa đất 167 thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 682136 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày ngày 06/7/2017 cho Hộ ông Đoàn B thì sơ đồ thửa đất chiều ngang đất giới hạn tại mốc (5, 6, -5) có diện tích là 23,89 m (Bl 75), tại bản vẽ hiện trạng đất số: 2867/2021 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh X1 thực hiện được giới hạn tại các điểm (1, a, b, c, d, 3, f, 5, -1) là 947,2 m² (B1 98)
Do ông Đoàn B và bà Đoàn Thị S là chị em ruột, hai gia đình sống hòa thuận và không có mâu thuẫn nên ranh đất giữa các bên không rào chắn, sử dụng ổn định không tranh chấp. Đến năm 2017 sau khi được Nhà nước cấp đổi Giấy chứng nhận đồng loạt cho các hộ dân trong đó có Hộ ông Đoàn B Hộ ông Trần T5g bà S) lúc này chồng bà S sống. Sau khi Hộ ông Đoàn B được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không ai có thắc mắc hay khiếu nại gì, cho đến khi ông Đoàn B kiến xây dựng hàng rào giáp ranh đất bà S xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết hồ sơ do ranh đất giữa bà Sông Bông có ranh giới rõ ràng nên ranh hiện trạng các bên đương sự chỉ dẫn không chính xác. Vì vậy, Hội đồng xét xử dựa trên bản đồ địa chính của thửa đất 167 và thửa 785 thuộc tờ bản đồ số 74, xã X cơ sở xét xử. Do Hộ ông Đoàn B yêu cầu Tòa án ghi nhận thửa đất số 167 theo bản đồ địa chính được cấp giới hạn tại các điểm (1, a, b, c, d, 3, f, 5, -1) là 947,2 m² và do ranh đất giữa các thửa đất 167 và thửa 785 không có tài sản nên không xem xét.
- Theo lời khai của ông Đoàn BL162) và khi tiến hành đo đạc lại bản đồ địa chính mới, khi địa chính đang đo thì ông B ông T5anh giới và đồng ý ký giáp ranh với nhau.
Tại hồ sơ đăng ký kê khai cấp giấy, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2 thửa đất trên không có chứng cứ thể hiện có ký xác định ranh mốc giữa các bên và tại Bản trình bày ý kiến (BL 185) của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đhi nhánh Xleo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ) thì việc kê khai đăng ký biến động cấp đổi Giấy chứng nhận dạng đồng loạt, không kiểm tra, rà soát thực địa đối với thửa 167, tờ bản đồ 74 xã X. Việc cấp đổi giấy chứng nhận cho hộ ông Đoàn B đúng trình tự, thủ tục quy định.
Đồng thời, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc (B1 86) thể hiện thì đến năm 2020, 2 thửa đất 167 và thửa 168 (cũ) nay là thửa 785 không có ranh giới rõ ràng, các bên sử dụng ổn định không có tranh chấp, không có thỏa thuận về ranh giới đất, hiện trạng ranh đất tranh chấp là đất trống, không có cây trồng, công trình xây dựng gì. Năm 2020, 2 bên có thống nhất cắm mốc bằng cọc để xác định ranh giới giữa 2 thửa đất, nhưng sau đó lại không thống nhất nên phát sinh tranh chấp.
- Theo Hợp đồng mua bán chuyển nhượng đất ngày 05/6/2015 (BL 12) có nội dung ông Trần T5, bà Đoàn Thị S chuyển nhượng 1 phần thửa đất 168 tờ bản đồ số 74 xã X ông Đoàn B bà Lê Thị T1 phần đất giáp với phía sau của thửa 167 tờ bản đồ số 74 của ông B diện tích 93.64m² chiều dài 4m, chiều ngang 23.41m. Ông B rằng khi cấp đổi Giấy chứng nhận ông đã kê phần diện tích đất nhận chuyển nhượng trên vào thửa đất 167 (diện tích được cấp giấy cũ là 914m²) thành 1007.46m² nhưng hiện trạng còn 947.2m², ông B nói trừ lộ giới nên không khiếu nại, ý kiến gì.
- Văn bản số 6460/VPĐK ngày 14/9/2024 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ chi nhánh X1 nội dung: Bản đồ địa chính xã X đo vẽ năm 1998 và năm 2015 được thành lập theo 2 phương pháp và hai hệ tọa độ khác nhau nên không có cơ sở để chồng ghép.
Như vậy, không có căn cứ từ bản đồ địa chính cũ và mới để xác định việc thay đổi hình thể thửa đất 167 cũng như đối chiếu, xem xét xác định ranh đất có thay đổi hay không. Do đó, nội dung kháng nghị của VKS huyện X rằng Toà án sơ thẩm chưa yêu cầu cơ quan chuyên môn chồng ghép bản đồ để xác định nguyên nhân tăng giảm diện tích cũng như chưa xác minh rõ ranh giới, mốc giới, xác nhận của các chủ sử dụng đất liền kề khi cấp đổi Giấy CNQSD đất là không có cơ sở vững chắc để chấp nhận.
- Tuy nhiên, căn cứ vào Bản đồ hiện trạng khu đất số 2867/2021 ngày 05/7/2021, hiện trạng ranh giới đất do ông B, bà S dẫn so với Bản đồ địa chính thì xác định diện tích đất bà S dẫn lấn sang thửa 167 được giới hạn tại các điểm (3, f, 5, e, -3) có diện tích là 10,7m² và các điểm (e, c, d, 3, e) có diện tích 0.3m². Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được cấp sơ thẩm chấp nhận là có cơ sở chấp nhận. Yêu cầu phản tố huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đoàn B không có cơ sở chấp nhận (cấp sơ thẩm cần lưu ý khi xác định “yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn là yêu cầu phản tố”).
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đoàn Thị S. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm theo hướng xác định ranh giới tranh chấp giữa hai thửa đất theo Bản đồ địa chính được đo vẽ năm 2012 tại Bản đồ hiện trạng khu đất số 2867/2021 ngày 05/7/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh X1 giới hạn các mốc (5, f, 3, d).
- Theo lời khai của ông Đoàn BL162) và khi tiến hành đo đạc lại bản đồ địa chính mới, khi địa chính đang đo thì ông B ông T5anh giới và đồng ý ký giáp ranh với nhau.
- Về chi phí tố tụng:
Do yêu cầu của nguyên đơn ông Đoàn B được chấp nhận nên buộc bị đơn bà Đoàn Thị S hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng cho nguyên đơn là: 25.585.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm tám mươi lăm ngàn).
- Về án phí: Bị đơn là bà Đoàn Thị S thuộc trường hợp không phải chịu án phí.
- Đối với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phản tố của bị đơn:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2, điều 308; điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Đoàn Thị S;
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 228, Điều 286, Điều 293, Điều 294, Điều 296, Điều 313, Điểu 315 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 166, 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 100, Điều 106 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đoàn B bà Lê Thị T1.
Xác định ranh đất giữa 02 (hai) thửa đất 167, tờ bản đồ 74, xã Xuộc (quyền sử dụng của hộ ông Đoàn B) và thửa đất 785, tờ bản đồ (mới) 64, xã Xuộc (quyền sử dụng của bà Đoàn Thị S, Đoàn Văn H4, Ong Thị Kim C) được xác định (theo Bản đồ địa chính được đo vẽ năm 2012) được giới hạn tại các mốc (5, f, 3, d) theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 2867/2021 ngày 05/7/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh X1.
Các bên đương sự chấm dứt hành vi cản trở nhau trong việc thực hiện quyền sử dụng đất đối với thửa đất thuộc quyền sử dụng;
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đoàn Thị S hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng cho nguyên đơn ông Đoàn B, bà Lê Thị T1 25.585.000 đồng (hai mươi lăm triệu, năm trăm tám mươi lăm ngàn).
- Về án phí: Bà Đoàn Thị S được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Đông |
Bản án số 121/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 121/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chính thức vào năm 1979 gia đình ông Đoàn B có chuyển nhượng của ông Trần Văn T4 diện tích đất 914,0m2, tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 74, tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, đến ngày 01/12/1999 cho Hộ ông Đoàn B được Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2011 ông B có nhu cầu làm nhà do thiếu đất làm khu vệ sinh phía sau nên ông có chuyển nhượng của ông Trần T5 và bà Đoàn Thị S 01 phần đất giáp liền với phần đất phía sau đất của gia đình ông chiều ngang 4m, chiều dài 23,41m. Tổng diện tích là 93,64m2, thuộc thửa đất số 168, tờ bản đồ số 84 đứng tên ông Trần T5, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu), các bên có đo đất và cắm cọc ranh đất chuyển nhượng và có làm giấy tay chuyển nhượng vào ngày 05/6/2015 có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân xã X vào ngày 07/7/2015. Cho đến năm 2016 Nhà nước có chủ trương cho toàn dân đi kê khai điều chỉnh biến động đất nên ông cùng ông T5 cùng chỉ ranh đất và ký giáp ranh giữa đất ông và đất ông T5. Đến năm 2017 Hộ ông được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH 682136 ngày 06/7/2017 đối với diện tích là 947,2m2, gia đình ông sử dụng ổn định không có ai tranh chấp. Đến năm 2020 ông muốn xây dựng bờ tường giữa ranh đất ông và ranh đất bà Đoàn Thị S thì gia đình bà S không đồng ý, bà cho rằng gia đình ông lấn đất của bà. Do các bên không hòa giải được nên ông đã có đơn gửi Ủy ban nhân dân xã X, nhưng không thành ông mới gửi đơn khởi kiện tại Tòa án huyện Xuân Lộc. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ đất tranh chấp, đến ngày 5/7/2021 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh X phát hành bản vẽ hiện trạng đất số: 2867/2021 thửa đất 167, tờ bản đồ số 74, diện tích đất 914,0m2, tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, theo bản đồ địa chính và được giới hạn tại các điểm (1, a, b, c, d, 3, f, 5, -1) là 947,2 m2, trên đất tranh chấp không có công trình hay tài sản gì. Nay Hộ ông B, bà T1 yêu cầu buộc bà Đoàn Thị S phải giao trả cho ông B bà T1 diện tích 0,3m2 giới hạn tại các điểm (c,d,3,e,-c) và diện tích 10,7m2 giới hạn tại các điểm (3,f,5,e-3) tổng diện tích là 11m2. Buộc bà Đoàn Thị S chấm dứt hành vi cản trở việc gia đình ông thực hiện quyền chủ sử dụng đất xây dựng hàng rào trong phạm vi đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 74 tọa lạc tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai của gia đình ông B, bà T1. . Đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đoàn Thị S vì bên phía bị đơn không đưa ra được chứng cứ cũng như không có căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đoàn B.
