Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 121/2025/DS – ST

Ngày 13/6/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chi

Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Minh Sơn

Bà Khưu Liên Dung

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 400/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118A/2025/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139A/2025/QÐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K1. Trụ sở: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng giám đốc;, Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V – chức vụ: Phó Tổng Giám đốc (theo văn bản ủy quyền số 07-38/QĐ-CT.HĐQT ngày 09/07/2024).

Ông Lê Trung V ủy quyền cho bà Trương Thị Mỹ N, Ông Trần Quốc K, bà Huỳnh Phương T1, ông Trần Hải Đ, và ông Phạm Quốc T2, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K1 (theo văn bản ủy quyền số 2031/QĐ-NHKL ngày 24/07/2024)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1962, địa chỉ: Số C, Khóm N, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989

Bà Trần Kim X, sinh năm 1994

Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1980

Cùng địa chỉ: Số C, Khóm N, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông N1 có mặt, các đương sự vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Văn N1 có vay tiền tại Ngân hàng TMCP K1– Chi nhánh B thông qua Hợp đồng tín dụng từng lần số 321/21/HĐTD/0200-1786 ngày 22/6/2021, nội dung: số tiền vay 300.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp; lãi suất là 11.1%/năm cố định trong 03 tháng; Kể từ tháng thứ 4 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần biên độ cộng thêm 3,8%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 23/6/2022, hình thức thanh toán, trả lãi và gốc 03 tháng/lần và Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho ông N1 xong vào ngày 23/6/2021. Để đảm bảo khoản vay ông Nguyễn Văn N1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 070/19/HĐTC-BĐS/0200-1786 ngày 18/6/2019, qua đó thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 150m² đất ở tại đô thị thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 07-3, đất tọa lạc tại Khóm N, Phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) tỉnh Bạc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD755591 cho ông Nguyễn Văn N1 vào ngày 06/12/2005. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn N1 chưa thanh toán nợ gốc lãi cho Ngân hàng và đã phát sinh nợ quá hạn.

Quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai ngày 04/6/2025, đại diện ngân hàng TMCP K1 xác định ông Nguyễn Văn N1 đã thanh toán được 15.000.000 đồng tiền nợ gốc nên nay Ngân hàng chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn N1 thanh toán nợ vay cho ngân hàng tính đến ngày 13/6/2025 số tiền là 479.921.322 đồng (trong đó nợ gốc là 285.000.000 đồng, lãi quá hạn 194.921.322 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Trường hợp ông Nguyễn Văn N1 không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Ngân hàng TMCP K1 rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ vốn là 15.000.000 đồng.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn N1 trình bày: Ông Nguyễn Văn N1 thừa nhận có vay tiền tại Ngân hàng TMCP K1– Chi nhánh B với hợp đồng tín dụng như đại diện nguyên đơn xác định là Hợp đồng tín dụng từng lần số 321/21/HĐTD/0200-1786 ngày 22/6/2021, nội dung như sau: số tiền vay 300.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp; lãi suất là 11.1%/năm cố định trong 03 tháng; Kể từ tháng thứ 4 lãi suất được điều chỉnh 03tháng/lần biên độ cộng thêm 3,8%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 23/6/2022, hình thức thanh toán, trả lãi và gốc 03tháng/lần. Ông đã được ngân hàng giải ngân xong. Đối với yêu cầu trả nợ vay của ngân hàng ông đồng ý trả. Nay ông N1 xin Ngân hàng được trả dần, mỗi tháng 4 triệu do hoàn cảnh hiện tại khó khăn, ông không còn khả năng lao động nữa nên không có thu nhập. Đối với việc Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp thì ông không đồng ý do đây là tài sản gia đình đang ở, và yêu cầu ngân hàng xem xét lại, có chính sách hỗ trợ cho gia đình ông.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 và chị Trần Kim X tự khai nội dung đồng ý trả nợ cho Ngân hàng mỗi tháng 4.000.000 đồng gốc và lãi, xin thêm thời gian trả nợ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày nội dung đã biết việc Ngân hàng khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn N1. Chị Nguyễn Thị Mỹ H đã cất nhà trên đất ở từ năm 2020 đến nay, đề nghị Ngân hàng cho thêm thời gian trả nợ vay. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp thì chị H đề nghị được nhận lại tiền đã cất nhà và đồng ý yêu cầu sau.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, đại diện nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng theo quy định, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Nguyễn Văn N1. Buộc ông Nguyễn Văn N1 toán số tiền còn nợ theo hợp đồng vay tính đến ngày 13/6/2025 số tiền là 479.921.322 đồng (trong đó nợ gốc là 285.000.000 đồng, lãi quá hạn 194.921.322 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Trường hợp ông Nguyễn Văn N1 không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP K1 đối với khoản nợ vốn là 15.000.000 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.

Ông Nguyễn Văn N1 được miễn án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (sau gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn N1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố B. Nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1.

Xét Hợp đồng tín dụng từng lần số 321/21/HĐTD/0200-1786 ngày 22/6/2021, nội dung như sau: số tiền cho vay 300.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp, nuôi tôm; lãi suất là 11.1%/năm cố định trong 03 tháng; Kể từ tháng thứ 4 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần biên độ cộng thêm 3,8%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 23/6/2022, hình thức thanh toán, trả lãi và gốc 3tháng/lần. Tại Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 321/21/KUNN thể hiện Ngân hàng đã giải ngân cho ông N1 vào ngày 23/6/2021 đủ số tiền vay. Bị đơn ông Nguyễn Văn N1 đã thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng và còn nợ tiền vay như nguyên đơn xác định và đồng ý trả toàn bộ nợ vay. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.

Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng tín dụng nêu trên có hình thức, nội dung thỏa thuận phù hợp theo quy định pháp luật tại thời điểm ký kết. Các bên thoả thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được nêu trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định Bộ luật Dân sự năm 2015. Bị đơn xác định còn nợ tiền vay và thống nhất trả nợ cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP K1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N1 thanh toán nợ vay với tổng số tiền tính đến ngày 13/6/2025 là 479.921.322 đồng (trong đó nợ gốc là 285.000.000 đồng, lãi quá hạn 194.921.322 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Đồng thời ông Nguyễn Văn N1 phải chịu trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 14/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ.

[4] Xét yêu cầu về quyền xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng, ông N1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 070/19/HĐTC-BĐS/0200-1786 ngày 18/6/2019, nội dung thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 150m² đất ở tại đô thị, thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 07-3, đất tọa lạc tại Khóm N, Phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD755591 cho ông Nguyễn Văn N1 vào ngày 06/12/2005 và tài sản trên đất. Hội đồng xét xử xét thấy, ông N1 đã ký kết hợp đồng thế chấp trên với Ngân hàng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và được công chứng theo quy định. Hợp đồng đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Việc giao kết hợp đồng thế chấp đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 317, 318, 319, 320 Bộ luật Dân sự, Điều 27 Luật Đất đai Hợp đồng được tự nguyện ký kết, ghi nhận quyền thanh lý tài sản thế chấp cho Ngân hàng nên việc ông N1 trình bày đất của gia đình, không đồng ý phát mãi là không có căn cứ chấp nhận. Nay bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng như đã phân tích nêu trên nên nguyên đơn yêu cầu quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[5] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/11/2024 thể hiện hiện trạng tài sản thế chấp là diện tích đất 150m², loại đất ở tại đô thị, thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07-3, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD755591 cấp ngày 06/12/2005 có tài sản trên đất gồm 01 căn nhà ở loại IV. Kết cấu khung cột bê tông cốt thép + cột gỗ dầu, vách đóng thiếc, nền gạch men, mái lợp tole xi măng (đòn tay gỗ dầu), mặt tiền trước và vách sau xây gạch (có tô và sơn tường), diện tích 4,6m X 16m. Mái che phía trước: khung cột sắt tiền chế, mái lợp thiếc, nền xi măng, diện tích 3,45m X 4,6m; hiện tại nhà do ông Nguyễn Văn N1, anh Nguyễn Văn T3 và chị Trần Kim X quản lý, sử dụng. Và 01 căn nhà ở loại III kết cấu cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (vách tường sơn +dán gạch ốp tường cao trên 01m), nền gạch men, mái lợp tole (có đóng la phông trần phẳng), mặt tiền trước có dán gạch men; rê nô phía trước đổ bê tông cốt thép (mái lợp ngói, nền gạch men), diện tích 4,1m X 2m, mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Diện tích nhà 4,1m X 13m; Căn nhà hiện do chị Nguyễn Thị Mỹ H quản lý, sử dụng.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy, tại Điều 2 Hợp đồng thế chấp số 070/19/HĐTC-BĐS/0200-1786 ngày 18/6/2019 ghi nhận tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hiện tài sản trên đất có ông Nguyễn Văn N1, anh Nguyễn Văn T3, chị Trần Kim X và chị Nguyễn Thị Mỹ H cùng quản lý, sử dụng. Anh T3, chị X, chị H đã biết việc thế chấp tài sản và đồng ý trả nợ ngân hàng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trường hợp phải thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông N1 là phù hợp, có căn cứ chấp nhận. Trường hợp các đương sự có yêu cầu về quyền sở hữu tài sản thì sẽ được giải quyết bằng vụ án độc lập khác.

[7] Đối với số tiền vốn 15.000.000 đồng bị đơn đã thanh toán, nguyên đơn có ý kiến rút yêu cầu, xét đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ.

[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện về hợp đồng thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần K1, nên ông Nguyễn Văn N1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Nhưng ông N1 thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó xét miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn N1.

Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 không phải nộp án phí, nay được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[10] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5, Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, các Điều 319, 463 Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Đình chỉ đối với số tiền vốn nguyên đơn rút yêu cầu là 15.000.000 đồng. (Mười lăm triệu đồng)

2/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Nguyễn Văn N1.

2.1. Buộc ông Nguyễn Văn N1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 13/6/2025 số tiền là 479.921.322 đồng (trong đó nợ gốc: 285.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, lãi quá hạn: 194.921.322 đồng).

2.2. Buộc ông Nguyễn Văn N1 tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký, kể từ ngày 14 tháng 6 năm 2025 cho đến ngày thực tế ông Nguyễn Văn N1 trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần K1.

3/. Trường hợp ông Nguyễn Văn N1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP K1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay theo quy định của pháp luật là quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AD755591 ngày 06/12/2005, cấp cho ông Nguyễn Văn N1, diện tích 150m², tại thửa đất số 24, tờ bản đồ 6, loại đất ở đô thị; tại Khóm N, Phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản khác gắn liền.

Buộc ông Nguyễn Văn N1, anh Nguyễn Văn T3, chị Trần Kim X, chị Nguyễn Thi Mỹ H1 có nghĩa vụ giao lại tài sản cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để thi hành cho nguyên đơn khi có yêu cầu.

4/. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 750.000 đồng. Ông Nguyễn Văn N1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đã dự nộp và chi số tiền 750.000 đồng nên ông Nguyễn Văn N1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

5/. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Nguyễn Văn N1 thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn nộp án phí.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 không phải chịu án phí. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 9.710.000 đồng (Chín triệu, bảy trăm mười ngàn đồng) theo biên lai số 0003139 ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.

6/. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7/. Án xử công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND TP Bạc Liêu;
  • - CC THA.DS TP Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/DS – ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 121/2025/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger