|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2025/DS-PT Ngày: 16-6 - 2025 V/v Tranh chấp đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 215/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp đất đai”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 118/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ A, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989. Địa chỉ: S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận
- Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Ngô Ngọc T2, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 02/8/2024)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Công L, sinh năm 1956. Địa chỉ: Thôn Mũi Đá, xã Tân Phước, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
- Bà Lê Thị V, sinh năm 1967. Địa chỉ: Tổ A, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị T1.
Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Thanh T và ông Ngô Ngọc T2; vắng mặt ông Nguyễn Công L và bà Lê Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T thống nhất trình bày:
Năm 2018 ông Đ có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Ngọc Á thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/6/2017 và được Chi nhánh Văn phòng Đ1 ghi vào sổ địa chính ngày 05/6/2018. Vào thời điểm làm thủ tục nhận chuyển nhượng đất của bà Á thì ranh giới giữa đất bà Á và bà T1 được thể hiện là bức tường rào cố định được xây dựng bằng gạch cao 2m chạy thẳng từ đường L đến hết đất của bà Lê Thị T1. Khoảng cuối năm 2020 lợi dụng ông Đ ở xa không có mặt thường xuyên để trông coi đất, bà T1 đã tự ý xây dựng một bức tường bằng gạch Block cách bước tường cũ của bà T1 0,5m, tường dài 17m lấn chiếm sang đất của ông Đ 8,5m². Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã La Gi giải quyết buộc bà T1 tháo dỡ di dời tường rào trả lại cho ông Đ 8,5m² đất mà bà T1 đã xây dựng tường rào lấn chiếm.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Lê Thị T1 trình bày:
Thửa đất hiện nay bà đang sử dụng có nguồn gốc là tự khai phá năm 1980, sau khi khai phá bà sử dụng ổn định liên tục và được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 991027. Sau khi được cấp giấy chứng nhận bà T1 đã tách ra nhiều thửa và tặng cho các con. Thửa đất bà tú đang sử dụng hiện nay giáp với đất chủ cũ là bà T3 (sau đó chuyển nhượng cho bà Á, hiện nay ông Đ nhận chuyển nhượng từ bà Á và đang trực tiếp sử dụng) giữa ranh đất bà T1 có trồng 01 hàng cây keo làm ranh giới. Khoảng năm 2007 bà T1 tiến hành xây nhà và xây tường rào, do hàng keo tỏa bóng mát nên bà để lại cho mát nhà nên không phá bỏ hàng keo mà xây tường rào cách hàng keo 0,5m. Khoảng năm 2018 thì khai thác keo, sau đó chủ giáp ranh đổ đất san lấp mặt bằng, khi họ đổ đất bà có nhắc việc đổ đất lấp gốc keo là xóa đi ranh giới giữa hai thửa đất nhưng họ vẫn đổ san lấp hết gốc keo. Năm 2021, do phía ông Đ san lấp đất xóa mất gốc hàng keo làm ranh giới đất nên bà T1 tiến hành xây một bức tường rào ranh giới bằng Tap lô dài 17m ngay phía trên gốc hàng keo làm ranh giới cũ trước đây cách tường rào bà xây năm 2007 là 0,5m. Do đó 5,3m² đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của bà T1. Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu bà T1 tháo dỡ di dời bức tường rào Tap lo trả lại 5,3m² đất cho ông Đ thì bà không đồng ý vì tường rào mà bà xây dựng là đúng ranh giới đất và 5,3m² đất là thuộc quyền sử dụng của bà T1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công L trình bày:
Ông L thống nhất với lời trình bày của bị đơn bà Lê Thị T1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V trình bày:
Bà V cho rằng bà T1 xây tường là không có căn cứ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST (được sửa chữa, bổ sung từ số 69 ngày 30/8/2024 sang số 64 ngày 29/8/2024 theo Quyết định số 186 ngày 28/10/2024) ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 164, khoản 1 Điều 165, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163; Điều 164, Điều 166, Điều 221 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn Đ về việc tranh chấp đất đai. Buộc vợ chồng bà Lê Thị T1, ông Nguyễn Công L trả lại cho ông Lương Văn Đ bà Lê Thị V phần diện tích đất đã lấn chiếm là 5,3 m², thuộc thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/6/2017. Buộc vợ chồng bà Lê Thị T1, ông Nguyễn Công L tháo dỡ tường rào Tap lo trên đất tranh chấp.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/9/2024, bị đơn bà Lê Thị T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm; Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh diện tích đất tranh chấp 5,3m² thuộc quyền sử dụng của bị đơn nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn bà Lê Thị T1 kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V và ông Nguyễn Công L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Theo đơn khởi kiện của ông Lương Văn Đ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy:
[4.1] Bà Lê Thị T3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 023322, thửa đất số 268b, tờ bản đồ số 22, diện tích 336m² do UBND thị xã L cấp ngày 30/11/2009 cho bà T3. Sau đó, được cấp đổi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442, thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46, diện tích 317,5m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/6/2017 cho bà T3. Ngày 15/3/2018 cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Lê Thị Ngọc Á. Ngày 05/6/2018 cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Lương Văn Đ.
[4.2] Về nguồn gốc đất của bà Lê Thị T1 và ông Nguyễn Công L là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn S năm 2006. Sau đó, bà T1 và ông L được cấp giấy chứng nhận vào năm 2006 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 991027, diện tích 3.285m². Sau đó, ông L và bà T1 thực hiện tách thửa đất, trong đó tiếp giáp với đất tranh chấp là thửa 406, tờ 22, diện tích 1482,7m² theo Giấy chứng nhận số CI 012462 do UBND thị xã L cấp ngày 25/5/2018 cho ông L và bà T1 và Giấy chứng nhận số AL859312, thửa đất số 106A, tờ số 01, diện tích 100m² do UBND thị xã LaGi cấp cho ông L và bà T1 ngày 14/8/2008.
[4.3] Theo Công văn số 1844/UBND-TNMT ngày 26/6/2024 của UBND thị xã L thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 02322, thửa đất số 268b, tờ bản đồ số 22, cấp ngày 30/11/2009 chủ sử dụng bà Lê Thị T3 được cấp đúng quy định pháp luật về đất đai. Sau đó, được cấp đổi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442, thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46, cấp ngày 08/6/2017.
[4.4] Theo Công văn số 1724/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 05/6/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442, thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46, cấp ngày 08/6/2017 được cấp đổi từ Giấy chứng nhận số AM 02322 là đúng trình tự, thủ tục.
[4.5] Theo Công văn số 1844/UBND-TNMT ngày 26/6/2024 của UBND thị xã L thì thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T3 và bà Lê Thị Ngọc Á là đúng quy định của pháp luật.
[4.6] Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH161442 mà các Cơ quan quản lý đất đai cấp cho bà Lê Thị T3 là đúng đối tượng và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và thủ tục chuyển nhượng cập nhật biến động cho ông Lương Văn Đ là đúng quy định của pháp luật.
[4.7] Xét ý kiến của bà Lê Thị T1 và ông Nguyễn Công L cho rằng khi xây tường rào là xây đúng với ranh giới đất thuộc quyền sử dụng của bà T1 và ông L. Tuy nhiên, theo Công văn số 2377/CN.VPĐKĐĐLG ngày 05/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã xác định phần diện tích đất tranh chấp 5,3m² thuộc Giấy chứng nhận số CH 161442 của ông Lương Văn Đ.
[4.8] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bị đơn yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ. Qua xem xét tại chỗ bị đơn tiến hành đào đất thì có thể hiện 02 gốc keo lá tràm. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện của bị đơn khai trồng vào năm 2004 là không phù hợp vì năm 2006 bà T1 và ông L mới nhận chuyển nhượng đất của ông S; các năm sau đó bị đơn có trồng keo lá tràm không thì không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Hơn nữa, theo Biên bản thẩm tra, xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng đất) ngày 08/10/2009 thì trên đất bà T3 cũng trồng keo lá tràm; theo Biên bản xác định ranh giới tại thực địa và thẩm tra tình hình chuyển nhượng đất giữa ông S và bà T1 vào ngày 09/8/2006 thì trên đất chỉ trồng Mãng Cầu, X, Điều (không có keo lá tràm). Do đó, lời khai của bị đơn là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Mặt khác, đại diện của bị đơn cũng không xác định được diện tích đất 5,3m² thuộc giấy chứng nhận nào của bà T1 sau khi đã tách thành nhiều thửa và cho rằng nếu không nằm trong giấy chứng nhận của bị đơn thì bị đơn cũng có quá trình sử dụng diện tích đất 5,3m² và giấy chứng nhận cấp cho bà T3 năm 2009 có thay đổi so với giấy chứng nhận cấp năm 2017 về kích thước từ 16.7m tăng lên 17,02m để khẳng định 5,3m² là đất của bị đơn là không có căn cứ, trong khi Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã xác định 5,3m² thuộc Giấy chứng nhận của ông Lương Văn Đ. Do đó, không có cơ sở để xác định diện tích đất 5,3m² là đất của gia đình bà T1.
[5] Từ những căn cứ đã phân tích nêu trên đủ cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp 5,3m² nằm hoàn toàn trong thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/6/2017 được cập nhật biến động cho ông Lương Văn Đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải tháo dỡ tường rào trả lại diện tích đất 5,3m² cho nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Bản án sơ thẩm không tuyên kèm theo bản án có sơ đồ thửa đất tranh chấp sẽ gây khó khăn cho công tác thi hành án nên cần bổ sung sơ đồ thửa đất tranh chấp vào phần quyết định của bản án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.
[7] Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[8] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu 4.000.000 đồng chi phí tố tụng nên được tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn là phù hợp. Số tiền này nguyên đơn đã nộp đủ.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T1 và ông L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên do ông L và bà T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy đình tại Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[10] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Căn cứ vào Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu số tiền 5.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bị đơn đã nộp đủ số tiền này.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị đơn bà Lê Thị T1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị T1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
[2] Căn cứ:
- - Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 97, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 163; Điều 164, Điều 166, Điều 221 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 170, Điều 202 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
- - Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- - Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tuyên xử:
[3.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn Đ về việc tranh chấp đất đai.
Buộc vợ chồng bà Lê Thị T1, ông Nguyễn Công L phải tháo dỡ tường rào Tap lo trên diện tích đất tranh chấp 5,3m² để trả lại cho ông Lương Văn Đ và bà Lê Thị V phần diện tích đất đã lấn chiếm là 5,3m², thuộc thửa đất số 419, tờ bản đồ số 46, diện tích 317,5m² tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 161442 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/6/2017 cho bà Lê Thị T3, chuyển nhượng cho ông Lương Văn Đ ngày 05/6/2018.
(Kèm theo bản án là Sơ đồ dựng lại ngày 04/12/2023 và sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp ngày 20/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ1)
[3.2] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) chi phí tố tụng. Nguyên đơn đã nộp đủ.
[3.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị T1 và ông Nguyễn Công L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Bị đơn phải chịu số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) chi phí tố tụng. Bị đơn đã nộp đủ số tiền này.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị đơn bà Lê Thị T1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/6/2025)
Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Phong Lan |
Bản án số 121/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đất đai
- Số bản án: 121/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Đ kiện Lê Thị T về việc "Tranh chấp đất đai"
