TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 1212024/HSST Ngày: 28-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoản
Ông Phạm Xuân Đính
Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXX-HS ngày 07/11/2024 đối với bị cáo:
Trần Minh K, sinh năm 1996; tại Bình Định; tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T, sinh năm 1944 và bà Lê Thị H, sinh năm 1948; vợ: Nguyễn Thị Xuân M, sinh năm 1997; có 01 người con: Trần Minh K1, sinh ngày 03/2/2018; Tiền án: 01 (Tại bản án số 01/2019/HSCTN-ST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tuyên bị cáo 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản); Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Anh Bùi Tuấn H1, sinh năm: 1999; Nơi ĐKHKTThôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Địa chỉ nơi cư trú: Nhà trọ T2 khu công nghiệp B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt)
Anh Hồ Nguyên T1, sinh năm: 1989; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định. Địa chỉ nơi cư trú: Nhà trọ T2 khu công nghiệp B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước ( Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh K có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù giam theo Bản án số 01/2019/HSCTN-ST ngày 11/07/2019, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/05/2023. Quá trình chấp hành án tại trại giam K3 – Bộ C, K quen biết với anh Bùi Tuấn H1 là người cùng chấp hành án. Sau khi chấp hành xong án phạt tù, K và anh H1 cùng xin làm công nhân cho Công ty X có trụ sở chính tại quận G, thành phố Hồ Chí Minh. H1 làm tại công trình xây dựng Khu công nghiệp B thuộc tỉnh Bình Phước, còn K làm tại công trình xây dựng thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Do công trình của K tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương làm đã xong nên ngày 22/07/2024, K đón xe ô tô khách đi từ phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến tỉnh Bình Phước. Khi đến ngã tư C thuộc thị xã C, K gọi điện thoại nhờ anh H1 đến rước Khả về phòng trọ của anh H1 tại phòng số 57/01, nhà trọ T2, thuộc khu phố D, phường M, thị xã C ở cùng với Hồ Nguyên T1 và Nguyễn Văn P để ngày hôm sau cùng anh H1 đi làm công trình trong Khu công nghiệp B. Đến tối cùng ngày, khi đang ở phòng trọ, K phát hiện xe mô tô hiệu Honda, loại Vario 150, màu trắng đen, biển số 93P2-754.11 của anh H1 nên nảy sinh ý định ngày 23/07/2024, K sẽ tìm cách nói dối với anh H1 để mượn xe mô tô, rồi chiếm đoạt xe mang về quê làm phương tiện đi lại.
Sáng ngày 23/07/2024, K, anh H1, anh T1 và anh P cùng đến công trình để làm việc. Khoảng 11 giờ cùng ngày, cả 4 người cùng đi ăn trưa tại quán cơm “Kim Hương” trên đường N - Khu công nghiệp B thuộc khu phố D, phường M, thị xã C. Do có ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 93P2-754.11 của anh H1 nên khi đến quán cơm K nói dối với anh H1 cho K mượn xe mô tô biển số 93P2-754.11 để đi đến ngã tư C đón con thì anh H1 đồng ý. K điều khiển xe mô tô trên đi về phòng trọ của anh H1, dùng chìa khóa phòng trọ gắn chung với chìa khóa xe để mở cửa phòng trọ. Lúc này, K leo lên gác lấy quần áo của mình rồi lấy trộm 01 túi xách bằng da màu nâu của anh H1 bên trong có quần áo và 02 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng và lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Ipad Air2, dung lượng 16GB, màu vàng gold của anh Hồ Nguyên T1 cất giấu vào túi xách. Sau đó, K khóa cửa phòng và điều khiển xe mô tô của anh H1 bỏ trốn về phòng trọ của K tại phường A, thành phố T để tắm rửa. Tại đây, K kiểm tra trong túi xách của anh H1 thì phát hiện có 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng.
Sau 30 phút, không thấy K quay lại trả xe mô tô, anh H1 gọi điện thoại cho K nhiều lần nhưng K không nghe máy nên anh H1 nhờ P chở về phòng trọ thì thấy cửa phòng vẫn khóa. Nghi ngờ K đã chiếm đoạt xe mô tô của mình nên anh H1 dùng chìa khóa phòng của anh P mở cửa đi vào phòng thì không thấy quần áo của K. Kiểm tra phòng thì anh H1 và T1 phát hiện mất những tài sản như đã nêu trên. Sau đó, anh H1 đến Công an phường M trình báo sự việc.
Đến 17 giờ cùng ngày, sau khi tắm xong, K điều khiển xe mô tô của anh H1, mang theo tài sản vừa lấy trộm ở phòng trọ của anh H1 đi về nhà tại tỉnh Bình Định. Khi đến thành phố P, K ghé đổ xăng thì phát hiện trong cốp xe của H1 có 01 máy cân bằng Laser hiệu AKUZA-X, màu xanh đen nhưng không lấy ra rồi tiếp tục đi đến trạm dừng chân (không nhớ địa chỉ) để nghỉ ngơi. Lúc này, K lấy máy tính bảng hiệu Ipad Air2 vừa trộm được của anh T1 ra sử dụng nhưng mở không lên nguồn nên K cất lại vào túi xách. Khoảng 30 phút sau, K tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà, khi đi đến cửa hàng điện thoại “Q" thuộc tổ D, khu A, thị trấn N, huyện P do anh Lê Quang H2 làm chủ. Khả mang máy tính bảng vào thuê anh H2 sửa, K nói máy tính này của K để cho con học, nhưng mở không lên nguồn và để lại số điện thoại 0899.786.xxx, hẹn khi nào sửa xong thì anh H2 gọi K đến lấy máy. Khoảng 09 giờ ngày 24/07/2024, K về đến nhà, lấy 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng cho cha của K là ông Trần T, K nói nhẫn này là do K mua nên ông T đồng ý nhận, còn lại các tài sản khác thì K cất giữ. Qua xác minh đến ngày 27/07/2024, Công an thị xã C đã bắt giữ Khả tại nhà ở thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định và thu giữ toàn bộ vật chứng của vụ án.
Bản kết luận định giá tài sản số: 48/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 02/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã C, [41- 43] xác định:
+ Trị giá của 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, màu đen trắng, biển số 93P2- 754.11, số máy: KF41E2076448, số khung MH1KF4121LK072343 của anh Bùi Tuấn H1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
+ Trị giá của 01 (một) máy cân bằng Laser hiệu AKUZA-X, màu xanh đen của anh Bùi Tuấn H1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng).
+ Trị giá 01 (một) túi xách bằng da, màu nâu có in dòng chữ “TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT BÌNH ĐỊNH” của anh Bùi Tuấn H1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 0 đồng (không ngàn đồng).
+ Trị giá của 01 máy tính bảng hiệu Ipad Air2, dung lượng 16GB, số máy: MH1C2J/A của anh Hồ Nguyên T1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.000.000 đồng.
+ Đối với giá trị của 02 nhẫn có chạm khắc hoa văn không rõ hình dạng, bằng kim loại màu vàng, thì anh H1 khai nhận là nhẫn giả, không phải là vàng của anh Bùi Tuấn H1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 0 đồng (không đồng).
Về tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vario 150, màu đen trắng, biển số 93P2-754.11, số máy: KF41E2076448, số khung MH1KF4121LK072343, xe có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 93004725, do Công an tỉnh B cấp ngày 06/03/2021 mang tên Phù Tường P1 đứng. Ngày 21/07/2024, anh Bùi Tuấn H1 đã mua lại xe mô tô trên (có hợp đồng ủy quyền toàn phần tại Văn phòng C1 thuộc khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước) là tài sản hợp pháp của Bùi Tuấn H1. Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại những tài sản trên cho H1.
- 01 (một) máy cân bằng Laser hiệu AKUZA-X, màu xanh đen; 01 (một) túi xách bằng da, màu nâu có in dòng chữ “TRUNG TÂM KINH DOANH VNPT BÌNH ĐỊNH” và 02 (hai) nhẫn bằng kim loại màu vàng có chạm khắc hoa văn. Quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của Bùi Tuấn H1. Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại những tài sản trên cho H1.
- 01 (Một) máy tính bảng hiệu Ipad Air2, dung lượng 16GB, số máy: MH1C2J/A. Quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của Hồ Nguyên T1 nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho T1.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, IMΕΙ: 863089059744945. Quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của Trần Minh K, K không sử dụng làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tôi.
Bản cáo trạng số 118/CT-VKSCT ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Trần Minh K về các tội “Lừa đào chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về các tội “Lừa đào chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Lừa đào chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt từ 21 tháng đến 27 tháng tù.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo do bị cáo còn mẹ già và đang nuôi con đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Do bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, thì sự vắng mặt của các bị hại không trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 23/7/2024, Trần Minh K có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, biển số 93P2-754.11 và 01 máy cân bằng Laser hiệu AKUZA-X, màu xanh đen của anh Bùi Tấn H3 với tổng giá trị tài sản là 30.600.000 đồng. Hành vi của Trần Minh K đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Đồng thời, Trần Minh K còn có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 (một) túi xách bằng da, màu nâu có in dòng chữ “Trung Tâm K4”; 02 (hai) nhẫn bằng kim loại màu vàng có chạm khắc hoa văn của anh Bùi Tuấn H1 và 01 máy tính bảng hiệu Ipad Air2, màu vàng gold của anh Hồ Nguyên T1, với tổng giá trị tài sản là 1.000.000 đồng và do ngày 11/07/2019, K bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 01/2019/HSCTN-ST, ngày 05/05/2023, K chấp hành xong án phạt tù, nhưng chưa đóng án phí và bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích, do đó hành vi do Trần Văn K2 thực hiện lần này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 118/CT-VKSCT ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về các tội “Lừa đào chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự có quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” và khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Tuấn H4 và anh T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với Lê Quang H2: Khi Trần Minh K đưa máy tính bảng hiệu Ipad Air2 đến cửa hàng điện thoại “Quang Hùng” do anh H2 làm chủ, K nói dối với anh H2 là máy tính bảng trên của K nhưng mở không lên nguồn, nhờ anh H2 sửa. H2 không biết máy tính trên là do K trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xử lý H2.
Đối với Trần T: Khả đưa cho ông T 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, K nói chiếc nhẫn này là do K mua, ông T không biết chiếc nhẫn trên là do K trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xử lý ông T.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38,50, 55 Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38,50, 55 Bộ luật hình sự
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Minh K phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “ Trộm cắp tài sản”;
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Minh K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 09 (chín) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”
Buộc bị cáo Trần Minh K phải chấp hành hình phạt của 02 tội là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/7/2024.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Thu Hà |
Bản án số 1212024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản
- Số bản án: 1212024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Minh K phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “ Trộm cắp tài sản”; : Xử phạt bị cáo Trần Minh Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 09 (chín) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”
