TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số:121/2024/HS-ST Ngày: 23/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Luận
2. Ông Trần Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Anh - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1978; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố T,
phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Vi Thị A, sinh năm 1952; gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ ba; có vợ là Đặng Thị N, sinh năm 1978 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được hủy bỏ thay bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Chị Đặng Thị N, sinh năm 1978; trú tại: Khu phố T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1987; trú tại: Số A, đường N, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Tạ Thị T, sinh năm 1988; trú tại: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Chu Thế H, sinh năm 1981; trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1967; trú tại: Số A, đường R, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1986; trú tại: Nhà B V Bắc Ninh, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH C3 được thành lập ngày 28/02/2011, tháng 10/2021 thay đổi đăng ký kinh doanh đổi tên thành công ty cổ phần C3 (viết tắt là công ty C3), có địa chỉ trụ sở tại Lô C, khu công nghiệp Y, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, với ngành nghề chính là xây dựng hạ tầng, gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại. Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Văn C. Công ty C3 có 02 thành viên góp vốn là Nguyễn Văn C và Đặng Thị N (là vợ của C).
Tháng 8/2019, Nguyễn Văn C tiếp tục thành lập công ty cổ phần C4 (viết tắt là công ty C4) có cùng địa chỉ trụ sở với công ty C3, ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất bồn chứa nước, inox,.. do Đặng Thị N (vợ của C) đứng tên Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của công ty. Khi mới thành lập, công ty C4 có 05 thành viên tham gia góp vốn, gồm Đặng Thị N góp 15%, anh Vi Công N1 góp 10%, chị Trịnh Thị K góp 10%, anh Nguyễn Thanh T1 góp 12% và công ty C3 góp 53%. Tháng 8/2022, anh N1, anh T1 và chị K chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp cho Nguyễn Văn C, đồng thời C là Tổng giám đốc, còn người đại diện theo pháp luật là Đặng Thị N. Thực chất toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doan của Công ty C4 đều do Nguyễn Văn C quản lý, chỉ đạo, điều hành, những người góp vốn chỉ đứng trên giấy tờ, không tham gia, không làm việc tại công ty C4.
Quá trình quản lý, điều hành công ty C3 và công ty C4, Nguyễn Văn C đã sử dụng hóa đơn của 02 công ty bán khống cho người tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi mua hóa đơn của Trần Thị H2 để hợp thức hóa số lượng hàng hóa trên hóa đơn đã bán khống, nhằm thu lợi bất chính từ tiền chênh lệch giá mua, bán khống hóa đơn, cụ thể như sau:
1. Về hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT.
Năm 2022, công ty C3 và công ty C4 nhận nhiều công trình thi công và nhiều đơn đặt hàng sản xuất, gia công theo yêu cầu của khách hàng trong việc sản xuất, gia công cơ khí phục vụ cho việc thi công công trình mà các khách hàng đã đặt hàng trước. Tại thời điểm này, có một số khách hàng quen biết hỏi C để mua một số mặt hàng thép tấm, thép hình, thép hộp, inox tấm... Do 02 công ty của C (công ty C3 và công ty C4) chủ yếu là thi công xây dựng hạ tầng, gia công cơ khí nên các mặt hàng khách hàng đặt mua 02 công ty của C không có. Tuy nhiên, để giữ mối quan hệ làm ăn nên C vẫn đồng ý và tìm mua cho khách hàng. Sau đó, C lên các trang mạng xã hội để tìm hiểu, tìm kiếm thông tin về mặt hàng cần mua thì C biết một người tên H1 có mặt hàng mà khách hàng cần
mua. C liên hệ qua zalo theo số điện thoại đăng trên mạng trao đổi và hẹn gặp H1 tại một quán café ở quận L, thành phố Hà Nội. Khi gặp H1, C trao đổi với H1 về việc có một số khách hàng cần mua các mặt hàng thép tấm, thép hình, thép hộp, inox tấm... thì H1 bảo có các mặt hàng này nhưng H1 không có công ty để xuất hóa đơn và phải nhờ một số công ty quen biết xuất hóa đơn cho H1. Tuy nhiên, C thấy các công ty H4 đều trong diện rủi ro về thuế hoặc ngoài tỉnh Bắc Ninh nên không đồng ý.
Sau đó, C và H1 thỏa thuận và thống nhất, khi khách hàng đặt mua hàng thì C sẽ bảo khách hàng liên hệ trực tiếp với H1 hoặc cho số điện thoại để Hoàng liên h lại với khách thực hiện việc các bên tự thỏa thuận về mặt hàng, số lượng và giá cả. Sau khi thống nhất được với khách hàng thì H1 sẽ chuyển hàng giao cho khách hàng, C sẽ xuất hóa đơn bán khống cho H1 để H1 giao cho khách, H1 phải trả cho C 1,7% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Đối với các chứng từ kèm theo như hợp đồng kinh tế, biên bản giao nhận hàng hóa..., thì C bảo Nguyễn Thị M hoặc Tạ Thị T là nhân viên của 02 công ty do C điều hành hoàn thiện rồi chuyển lại cho C để C ký giao cho H1 để làm các thủ tục thanh toán với khách hàng. Sau khi khách hàng thanh toán tiền vào tài khoản ngân hàng của công ty do C quản lý, điều hành (công ty C3 số 0351000618688 mở tại ngân hàng V1 và số 2600201007999 mở tại ngân hàng A1, công ty C4 mở tại ngân hàng B) thì C làm các thủ tục rút tiền (ký séc, giấy rút tiền) giao cho Chu Thế H là nhân viên ra ngân hàng rút tiền đưa lại cho C. Sau đó, C giữ lại tiền bán hóa đơn là 1,7% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn theo thỏa thuận, số tiền còn lại trả cho H1 bằng tiền mặt. Việc thanh toán tiền mua, bán hóa đơn nêu trên giữa C và H1 không có giấy tờ, sổ sách hay chứng từ ghi chép lại.
Với cách thức như trên, từ tháng 4/2022 đến tháng 10/2023, Nguyễn Văn C đã sử dụng 82 số hóa đơn GTGT của công ty C3 và công ty C4 xuất bán khống cho Hoàng xuất về 14 công ty, tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 118.474.561.630 đồng, tiền thuế là 11.847.456.163 đồng, với giá 1,7% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.
* Cơ quan điều tra tiến hành xác minh những công ty sử dụng hóa đơn khống của C, xác định như sau:
Người đại diện của 14 công ty đều khẳng định có mua bán hàng hóa với công ty C3 và công ty C4. Việc mua bán hàng là do các nhân viên của công ty thực hiện (đến nay đã nghỉ việc) hoặc do trực tiếp giám đốc công ty liên hệ, trao đổi với người tên T2, H3, T3 là nhân viên của công ty C3 và công ty C4, không biết và không trao đổi mua bán hàng hóa với C. Việc thanh toán tiền hàng được chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng theo quy định của pháp luật. Các công ty sử dụng hóa đơn đều cung cấp đầy đủ các tài liệu: Hợp đồng, hóa đơn, biên bản giao nhận hàng hóa và các chứng từ thanh toán tiền hàng như sao kê, ủy nhiệm chi... thể hiện việc mua bán hàng hóa là đúng quy định.
Đối với chị Nguyễn Thị V là giám đốc công ty T4 Biết trực tiếp liên hệ, trao đổi với C về việc mua bán hàng hóa và ký hợp đồng nguyên tắc. Công khai nhận có trao đổi việc mua bán hàng với chị V nhưng không trực tiếp mua bán
hàng hóa mà giới thiệu cho chị V liên hệ với H1 để mua bán hàng hóa, C không rõ H1 và chị V đã trao đổi với nhau như thế nào, C chỉ bán hóa đơn cho Hoàng xuất về công ty T4 Biết. Cơ quan điều tra đã cho C và chị V đối chất với nhau, kết quả các bên vẫn giữ nguyên lời khai và không đưa ra tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh.
2. Về hành vi mua hóa đơn GTGT khống
Sau khi sử dụng hóa đơn GTGT của công ty C3 và công ty C4 bán khống cho H1, C tìm hiểu và liên hệ với Trần Thị H2, sinh năm 1967, trú tại khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là giám đốc công ty H5 đặt vấn đề mua hóa đơn GTGT với giá 1,52% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn nhằm hợp thức hóa số lượng hàng hóa trên các số hóa đơn đã bán khống. Khi cần mua hóa đơn, C cung cấp thông tin như tên công ty, mặt hàng, khối lượng, giá trị.... cho H2 để H2 hoàn thiện các thủ tục, giấy tờ theo thông tin C cung cấp. Sau đó, H2 chuyển cho C hợp đồng kinh tế, biên bản giao nhận hàng hóa và các chứng từ kèm theo để C ký tên giám đốc, rồi C trực tiếp chuyển lại cho H2 để hoàn thiện hồ sơ và xuất hóa đơn GTGT khống cho C.
Để hợp thức hóa việc thanh toán tiền qua ngân hàng đối với các hóa đơn mua khống, C trực tiếp nộp tiền hoặc nhờ nhân viên (Chu Thế H) nộp tiền vào tài khoản công ty hoặc sử dụng số tiền có sẵn trong tài khoản của công ty (công ty C3 hoặc công ty C4), thanh toán tiền bằng cách chuyển khoản đến tài khoản của các công ty do H2 xuất hóa đơn khống. Sau khi nhận được tiền, H2 giữ lại tiền bán hóa đơn theo thỏa thuận là 1,52% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. số tiền còn lại trả cho Công bằng tiền mặt hoặc H2 chuyển tiền vào tài khoản số 1020503866 mở tại ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Thị C2, sinh năm 1967, trú tại số A, đường R, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (hàng xóm của C) theo yêu cầu của C. Sau đó, C bảo C1 chuyển tiền vào tài khoản số 0351001156668 mở tại ngân hàng V1 của Chu Thế H (nhân viên của C) rồi C bảo H rút tiên ra đưa lại cho C. Việc thanh toán tiền mua, bán hóa đơn nêu trên giữa C và H2 không có giấy tờ, sổ sách hay chứng từ ghi chép lại.
Với cách thức như trên, từ tháng 4/2022 đến tháng 10/2023, Nguyễn Văn C đã mua khống 49 số hóa đơn của Trần Thị H2 của 05 công ty do H2 quản lý, điều hành, tổng trị giá tiền hàng ghi trên hóa đơn là 124.050.762.766 đồng, tiền thuế là 12.405.076.277 đồng, với giá 1,52% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.
Để làm báo cáo thuế hàng tháng, quý và báo cáo tài chính Nguyễn Văn C thuê Tạ Thị T làm kế toán thuế. Đến kỳ kê khai báo cáo thuế, C chuyển toàn bộ hóa đơn, chứng từ của công ty C3 và công ty C4 cho T để kê khai, báo cáo thuế. C không trao đổi cho T biết việc C mua bán trái phép hóa đơn. Bản thân T không biết C mua bán trái phép hóa đơn, chỉ làm kế toán báo cáo thuế và các hợp đồng, chứng từ cho công ty của C theo sự chỉ đạo của C theo các hóa đơn, chứng từ do C chuyển cho.
3. Về số tiền thu lợi bất chính
Tổng số hóa đơn GTGT do Nguyễn Văn C mua, bán khống là 131 số hóa đơn, được hưởng lợi số tiền: Tiền bán hóa đơn đầu ra (1,7% giá trị tiền hàng trên hóa đơn) - Tiền mua hóa đơn đầu vào (1,52% giá trị tiền hàng trên hóa đơn), cụ thể: 118.474.561.630đ x 1,7% - 124.050.762.766đ x 1,52% = 2.014.067.548₫ - 1.885.571.594d = 128.495.954 đồng.
Đến nay, C đã khắc phục và nộp lại số tiền 500.000.000 đồng.
Ngày 09/01/2024, Nguyễn Văn C đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 111/CT-VKSBN-P1 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn Công k nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai do công ty bị cáo không bán sản phẩm mà khách hàng cần mua nên bị cáo đã thỏa thuận với H1 việc H1 sẽ cung cấp hàng theo yêu cầu của khách hàng và thỏa thuận về gián. Bị cáo sẽ xuất hóa đơn cho H1 và hưởng lợi trên số hóa hơn theo thỏa thuận 1,7%. Mục đích của bị cáo là nhằm nhằm giữ mối khách hàng. Sau đó bị cáo mua hóa đơn khống của H2 để hợp thức hóa đầu vào. Bản thân C đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 500.000.000 đồng bao gồm số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn và tiền để khắc phục cho hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo mong HĐXX xem xét khoàn hồng cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn C từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng nộp Ngân sách nhà nước.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 128.495.954 đồng là tiền bị cáo hưởng lợi từ hành vi phạm tội. Xác nhận bị cáo C đã nộp 500.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra; tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo C không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét khoan hồng cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2023, với vai trò là giám đốc và người quản lý, điều hành mọi hoạt động của Công ty cổ phần C3 và Công ty cổ phần C4, Nguyễn Văn C đã sử dụng 82 số hóa đơn GTGT đã ghi nội dung của 02 công ty nêu trên, có tổng giá trị tiền hàng là 118.474.561.630 đồng, tiền thuế là 11.847.456.630 đồng, bán khống cho đối tượng tên H1 ở quận L, thành phố Hà Nội (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) xuất về 12 công ty, với giá 1,7% tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Sau đó, Nguyễn Văn C đã mua khống 49 số hóa đơn GTGT của Trần Thị H2 do 05 công ty xuất ra cho 02 công ty của C để hợp thức số lượng hàng trên các hóa đơn đã bán khống, với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 124.050.762.766 đồng, tiền thuế là 12.405.076.277 đồng, với giá 1,52% tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Như vậy, tổng số hóa đơn Nguyễn Văn C đã mua, bán khống là 131 số hóa đơn và hưởng lợi bất chính số tiền là 128.495.954 đồng. Vì vậy, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự quản lý của nhà nước về tài chính, kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh. Do vậy, cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú; trong giai đoạn điều tra bị cáo tự nguyện nộp lại 500.000.000 đồng gồm toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và tiền đảm bảo việc xét xử; quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có tham gia ủng hộ phòng chống dịch bệnh Covid 19. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] HĐXX nhận thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại giai đoạn điều tra bị cáo đã nộp 500.000.000 đồng gồm toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và khoản tiền để đảm bảo xét xử thể hiện bị cáo đã tự ý thức được việc chấp hành pháp luật. Vì vậy, cần chiếu cố, khoan hồng, áp dụng
hình phạt chính là phạt tiền như đề nghị của đại diện VKS cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 128.495.954 đồng là tiền thu lợi bất chính cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Những vấn đề có liên quan:
[10] Đối với chị Đặng Thị N, chị Nguyễn Thị C1, anh Chu Thế H, chị Nguyễn Thị M, chị Tạ Thị T là những người được C nhờ đứng tên thành lập công ty, rút chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng và kê khai báo cáo thuế nhưng những người này không biết việc giúp C như vậy để C mua bán hóa đơn GTGT khống nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự là phù hợp.
[11] Đối với 03 cổ đông góp vốn vào Công ty C4 là anh Vi Công N1, chị Trịnh Thị K và anh Nguyễn Thanh T1 không tham gia làm công việc gì tại Công ty, không được C cho hưởng lợi ích gì; không thấy C trao đổi, nói gì về hoạt động của công ty, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
[12] Đối với người tên H1 ở quận L, thành phố Hà Nội là người theo Công khai mua hóa đơn của C. Do C không biết tuổi, địa chỉ cụ thể của H1 là như thế nào và cũng không biết H1 có mối quan hệ với những ai nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ điều tra, xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khí nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.
[13] Đối với Trần Thị H2 là người sử dụng 49 hóa đơn của 05 công ty do H2 quản lý điều hành bán khống cho C xuất về công ty C3 và công ty C4. Đến nay, hành vi của H2 đã bị xét xử theo Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh nên không xem xét trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.
[14] Đối với 14 công ty sử dụng hóa đơn của công ty C3 và công ty C4. Đến nay chưa có đủ cơ sở xác định các công ty này mua khống hoặc sử dụng hóa đơn GTGT để kê khai khấu trừ thuế. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, đồng thời thông báo cho Cơ quan quản lý thuế biết để xử lý theo quy định của pháp luật.
[15] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng nộp Ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Truy thu sung ngân sách Nhà nước 128.495.954 đồng của bị cáo Nguyễn Văn C.
Xác nhận bị cáo C đã nộp số tiền 500.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra theo Biên lai thu tiền số 0000396 ngày 22/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B giao nộp. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN VAN C PHAM TOI MUA BAN HOA DON TRAI PHEP
