|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 121/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phú Thạnh.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: PHẠM CÔNG P, (Tên gọi khác: T) sinh năm: 1996 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Công H, sinh năm: 1974 (Đã chết) và bà Đoàn Lệ L, sinh năm: 1974; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ vào ngày 20/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L.
2. Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH Q, (Tên gọi khác: B) sinh năm: 1989 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T1, sinh năm: 1956 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1954 (Đã chết); Có vợ Lê Thị S, sinh năm: 1993 và 01 con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ vào ngày 20/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L.
3. Họ và tên: LÊ HOÀNG THÀNH T2, sinh năm: 1994 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hoàng D, sinh năm: 1975 và bà Lê Thị D1, sinh năm: 1974 (Đã chết); Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ vào ngày 20/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 19/6/2024, Phạm Công P đến khu vực chòi trong trại cá cơm thuộc khu phố A, phường B, thị xã L để chơi với bạn là Nguyễn Đình Q và Lê Hoàng Thành T2, những người đang làm thuê và ở trong chòi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, cả ba bàn bạc và thống nhất góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng trong chòi. Trong đó, P góp 40.000 đồng, Q và T2 mỗi người góp 30.000 đồng, tổng cộng là 100.000 đồng. Đồng thời, cả ba thống nhất P là người có tiền nên sẽ đứng ra mua trước, sau đó Q và T2 sẽ trả lại tiền cho P sau. Thực hiện ý định, P ra ngoài mượn điện thoại của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để gọi cho một nam thanh niên khác (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 100.000 đồng ma túy đá và hẹn địa điểm giao ma túy tại hàng rào gần nhà vệ sinh của trại cá cơm. P để tiền trong một vỏ gói thuốc lá BASTOS màu xanh tại hàng rào. Khi người bán đến, họ sẽ lấy tiền và để ma túy lại cho P. Khoảng 30 phút sau, P mua được tép ma túy, cầm về chòi và đặt lên vỏ loa gỗ hư có sẵn trong chòi, Q và T2 đều nhìn thấy. Sau đó, P và T2 đi ra ngoài lo công việc riêng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi P quay về, Q đã ở trong chòi. P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn gần đó (gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng đục với 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống thủy tinh cong một đầu có hình cầu, và 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen) cùng với 01 bật lửa màu xanh để sử dụng ma túy. P đổ ma túy vào ống thủy tinh cong, dùng bật lửa đốt nóng (nấu) ma túy rồi tự sử dụng. Sau đó, P đặt bộ dụng cụ xuống. Tiếp theo, Q cầm bộ dụng cụ lên, dùng bật lửa nấu ma túy rồi tự sử dụng và sau đó đặt bộ dụng cụ xuống. Khoảng 20 phút sau, T2 trở về và cũng tự nấu ma túy rồi sử dụng. Cả ba sử dụng ma túy cho đến khoảng 22 giờ 30 phút thì lực lượng Công an phường B đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang P, Q, và T2 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống thủy tinh cong có một đầu hình cầu, bên trong chứa một ít chất dạng rắn (ký hiệu: Mẫu M) và 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen;
- - 01 vỏ loa bằng gỗ bị hư, kích thước (26x23x50)cm;
- - 01 bật lửa màu xanh dài 7,5 cm;
- - 01 đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, bên trong không chứa gì, kích thước (1,9x01 )cm;
- - 01 điện thoại Samsung màu xanh rêu, bị bể màn hình, gắn sim số 0961920500, thu giữ của Phạm Công P;
- - 01 điện thoại Vivo màu đen, găn sim số 0917106650 và sim số 0392640262, thu giữ của Nguyễn Đình Q.
Ngày 20/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện, thu giữ tại vị trí hàng rào của trại cá cơm 01 vỏ gói thuốc lá hiệu BASTOS màu xanh, kích thước (5,7x8,5x2,2)cm.
Tại các Phiếu xét nghiệm ngày 20/6/2024 của Bệnh viện đa khoa khu vực thị xã L cho kết quả: Nguyễn Đình Q, Phạm Công P, Lê Hoàng Thành T2 đều dương tính với MET (ma túy đá), AMP (ma túy tổng hợp).
Tại Kết luận giám định số 705/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0387 gam, là Methamphetamine.
Vật chứng còn lại sau giám định gồm:
- - 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen; 01 vỏ loa bằng gỗ bị hư, kích thước (26x23x50)cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, bên trong không chứa gì, kích thước (1,9x01)cm; 01 bật lửa màu xanh dài 7,5cm; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu BASTOS màu xanh, kích thước (5,7x8,5x2,2)cm và 01 ống thủy tinh cong được thổi phồng một đầu cùng 0,0232 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì số 705 của Phòng K Công an tỉnh B, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
- - Đối với các vật chứng không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại cho chủ sở hữu gồm: 01 điện thoại Samsung màu xanh rêu, bị bể màn hình, gắn sim số 0961920500 trả cho Phạm Công P và 01 điện thoại Vivo màu đen, gắn sim số 0917106650 và sim số 0392640262 trả cho Nguyễn Đình Q.
Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKSLG-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố các bị cáo Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Công P từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Thành T2 từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen; 01 vỏ loa bằng gỗ bị hư, kích thước (26x23x50)cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, bên trong không chứa gì, kích thước (1,9x01)cm; 01 bật lửa màu xanh dài 7,5cm; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu BASTOS màu xanh, kích thước (5,7x8,5x2,2)cm và 01 ống thủy tinh cong được thổi phồng một đầu cùng 0,0232 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì số 705 của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị.
Đối với chất ma túy còn lại của Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2, qua giám định có khối lượng là 0,0387 gam Methamphetamine, đồng thời P, Q, T2 chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi trên của P, Q, T2 chưa cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự nên đề nghị không xét.
Đối với người đàn ông P mượn điện thoại để gọi mua ma túy và nam thanh niên bán ma túy cho P, qua điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với chủ trại cá cơm là bà Nguyễn Thị T3, quá trình điều tra xác định bà T3 không biết Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 cùng Phạm Công P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong chòi thuộc trại cá cơm của bà T3, nên không xem xét xử lý.
Tại phiên tòa các bị cáo P, Q, T2 xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Các bị cáo bị truy tố về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cao nhất đến 15 năm tù, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 09 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
[3] Về căn cứ buộc tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, tại nơi ở của Nguyễn Đình Q và Lê Hoàng Thành T2 là khu vực chòi trong trại cá cơm thuộc khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, Công an phường B bắt quả tang Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 có hành vi cung cấp ma túy cho nhau sử dụng. Chất ma túy còn lại trong dụng cụ sử dụng của P, Q, T2 qua giám định có khối lượng là 0,0387 gam Methamphetamine. Kết quả xét nghiệm, P, Q, T2 đều dương tính với ma túy Methamphetamine.
Hành vi của Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trực tiếp đến an ninh xã hội và sức khỏe cộng đồng. Đây là hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Phòng, chống ma túy. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với các bị cáo P, Q, T2 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò; trong đó P, Q, T2 đều có hành vi cung cấp ma túy cho nhau, Q và T2 cung cấp nơi tổ chức, P là người mua và mang ma túy, dụng cụ vào sử dụng. Như vậy, các bị cáo phải chịu chung hậu quả của hành vi mình gây ra nên Hội đồng xét xử cần phải xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo, với đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được mức độ nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe con người cũng như an toàn của cả cộng đồng. Các bị cáo hiểu rõ rằng M là một loại ma túy gây nghiện cực kỳ mạnh, đã được Nhà nước đặt vào danh mục các chất bị nghiêm cấm, với các quy định pháp lý rất nghiêm khắc đối với mọi hành vi liên quan đến mua bán, vận chuyển, tàng trữ, và tổ chức sử dụng trái phép. Các bị cáo cũng ý thức được ma túy không chỉ là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe mà còn là nguyên nhân chính gây ra sự gia tăng của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác trong xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi tệ nạn ma túy đang trở nên ngày càng phức tạp và gia tăng đáng báo động, những hệ lụy mà ma túy gây ra cho xã hội là vô cùng nghiêm trọng. Thế nhưng, bất chấp tất cả những nhận thức và cảnh báo đó, các bị cáo vẫn cố tình coi thường pháp luật, phớt lờ mọi hậu quả để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không chỉ thể hiện sự coi thường pháp luật mà còn gây nguy hại nghiêm trọng đến trật tự xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo P, Q, T2 thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo. Ngoài ra, Bị cáo P có ông N là Phạm Hữu H1 là người có công công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc. Việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để trừng trị và giáo dục các bị cáo về ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc đến việc các bị cáo phạm tội lần đầu, điều này giúp xác định một mức án vừa đủ nghiêm minh nhưng cũng tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa sai lầm, và tái hòa nhập với cộng đồng
[6] Về xử lý vật chứng: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen; 01 vỏ loa bằng gỗ bị hư, kích thước (26x23x50)cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, bên trong không chứa gì, kích thước (1,9x01)cm; 01 bật lửa màu xanh dài 7,5cm; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu BASTOS màu xanh, kích thước (5,7x8,5x2,2)cm và 01 ống thủy tinh cong được thổi phồng một đầu cùng 0,0232 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì số 705 của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với chất ma túy còn lại của Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2, qua giám định có khối lượng là 0,0387 gam Methamphetamine, đồng thời P, Q, T2 chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi trên của P, Q, T2 chưa cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với người đàn ông P mượn điện thoại để gọi mua ma túy và nam thanh niên bán ma túy cho P, qua điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với chủ trại cá cơm là bà Nguyễn Thị T3, quá trình điều tra xác định bà T3 không biết Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 cùng Phạm Công P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong chòi thuộc trại cá cơm của bà T3, nên không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Công P 07 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/6/2024.
[2] Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Q và bị cáo Lê Hoàng Thành T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q 07 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/6/2024.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Thành T2 07 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/6/2024.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen; 01 vỏ loa bằng gỗ bị hư, kích thước (26x23x50)cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, bên trong không chứa gì, kích thước (1,9x01)cm; 01 bật lửa màu xanh dài 7,5cm; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu BASTOS màu xanh, kích thước (5,7x8,5x2,2)cm và 01 ống thủy tinh cong được thổi phồng một đầu cùng 0,0232 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì số 705 của Phòng K Công an tỉnh B theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Biện Việt Hùng |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, tại nơi ở của Nguyễn Đình Q và Lê Hoàng Thành T là khu vực chòi trong trại cá cơm thuộc khu phố 1, phường Bình Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, Công an phường Bình Tân bắt quả tang Phạm Công P, Nguyễn Đình Q, Lê Hoàng Thành T có hành vi cung cấp ma túy cho nhau sử dụng. Chất ma túy còn lại trong dụng cụ sử dụng của P, Q, T qua giám định có khối lượng là 0,0387 gam Methamphetamine. Kết quả xét nghiệm, P, Q, T đều dương tính với ma túy Methamphetamine. Xử phạt: Bị cáo Phạm Công P 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/6/2024. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/6/2024. Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Thành T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 20/6/2024.
