Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày: 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Hồng Thông.

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLST - HS ngày 02/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. H và tên: Nguyễn Văn T, (tên gọi khác: không); sinh ngày 23 tháng 08 năm 1995 tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và con bà Lê Thị H1, sinh năm 1965; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 11/4/2022, Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn T số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, thi hành ngày 20/4/2022; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/06/2024 đến nay (có mặt).

  2. H và tên: Trần Văn Ú, (tên gọi khác: không); sinh ngày 10 tháng 03 năm 1993 tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/06/2024 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, Nguyễn Văn T gọi điện thoại cho Trần Văn Ú nói “Lấy hộ cho sáu trăm nghìn tiền trắng”, nghĩa là T hỏi Ú có biết chỗ nào mua được ma túy không mua hộ cho T 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tiền ma túy (Heroine) để cùng nhau sử dụng. Ú đồng ý và gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên L, không rõ tên tuổi và đại chỉ cụ thể ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nói: “Có ma túy H2 không bán cho Ú sáu trăm nghìn đồng”, L đồng ý và hẹn Trần Văn Ú đến khu vực Cống B thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để lấy ma túy và giao tiền. Sau đó, Nguyễn Văn T sử dụng xe máy mượn được của một người đàn ông tên H3, không rõ tên tuổi và địa chỉ cụ thể, ở huyện Y, tỉnh Nghệ An đến nhà Trần Văn Ú và chở Ú đến khu vực Cống B, xã D, huyện D. Khi đến nơi, T đưa cho Ú số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), Ú cầm tiền rồi nói T đứng đợi tại chỗ, một mình Trần Văn Ú đi bộ lên khu vực đường Q thuộc thôn C, xã D, huyện D gặp và mua của người phụ nữ tên L 02 (hai) gói ma túy bằng số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) mà T đưa cho Ú trước đó rồi đi bộ về chỗ Nguyễn Văn T đang chờ và cả hai cùng nhau đi sử dụng ma túy. Sau đó, T cầm số ma túy còn lại ở tay trái và chở Ú về nhà, T cũng đi xe máy về nhà trả lại xe máy cho người đàn ông tên H3.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn T đang đi bộ tại đường liên xóm thuộc xóm T, xã D, huyện D thì bị lực lượng Công an huyện Diễn Châu phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn T 02 (hai) gói ma túy (Heroine); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có chứa sim thuê bao số 0368.870.494. Lực lượng Công an huyện D tiến hành niêm phong vật chứng theo đúng quy định rồi đưa Nguyễn Văn T về trụ sở Công an huyện D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đến 13 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện D thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn Ú. Quá trình bắt giữ, thu giữ của Ú 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong có chứa sim thuê bao số 0372.184.924.

Ngày 04/6/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện D tiến hành lập biên bản về việc mở niêm phong và kiểm tra điện thoại đã thu giữ của Nguyễn Văn T và Trần Văn Ú. Quá trình làm việc, Nguyễn Văn T thừa nhận vào lúc 09 giờ 38 phút ngày 02/6/2024 có sử dụng điện thoại gọi cho Trần Văn Ú để nhờ Ú đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, phù hợp với kết quả mở niêm phong và kiểm tra 02 chiếc điện thoại đã thu giữ.

Đến 14 giờ 50 phút ngày 02/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện D tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định đối với số vật chứng nghi là ma túy thu giữ được của Nguyễn Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 604/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015.

  • Số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T có tổng khối lượng là 0,25 gam (Không phẩy hai mươi lăm gam).

Tại Bản cáo trạng số 136/CT-VKSDC ngày 30/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Nguyễn Văn T, Trần Văn Ú về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn Ú khai nhận hành vi như cáo trạng truy tố. Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Ú từ 15 (mười lăm) tháng đến 18(mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 867397050203894, số Imei 2: 867397050203886, bên trong có chứa sim thuê bao số 0368.870.494, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei 1: 355126100220775, số Imei 2: 355126100220783, bên trong có chứa sim thuê bao số 0372.184.924. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và nội dung vụ án: Tại phiên toà, Nguyễn Văn T và Trần Văn Ú hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, Nguyễn Văn T đang đi bộ tại đường liên xóm thuộc xóm T, xã D, huyện D thì bị lực lượng Công an huyện Diễn Châu phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0.25 gam ma túy Heroine. Số ma túy trên là của Nguyễn Văn T cùng Trần Văn Ú mua tại khu vực thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ với số tiền 600.000 đồng, mục đích để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố và đề nghị kết tội các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn Ú về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sự duy trì nòi giống của dân tộc. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nên cần xem xét nhân thân; tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt. Bị cáo T đã bị Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn T số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, thi hành ngày 20/4/2022 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội nên mức hình phạt đối với bị cáo T phải cao hơn bị cáo Ú.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không vì mục đích vụ lợi. Theo tài liệu điều tra thì các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy xét miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: số ma túy sau khi giám định đựng trong 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 867397050203894, số Imei 2: 867397050203886; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei 1: 355126100220775, số Imei 2: 355126100220783 là vật chứng liên quan hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

[8.1] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[8.2] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên L đã bán ma túy cho Trần Văn Ú (theo lời khai của Ú), do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an huyện D không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 19 (mười chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 02/06/2024).

    Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Ú 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 02/06/2024).

  2. Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký cán bộ tham gia, đối tượng Nguyễn Văn T và Trần Văn Ú và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện D, bên trong có chứa: 02 (hai) gói ma túy (Heroine) có tổng khối lượng là 0,15gam (không phẩy hai mươi lăm gam) ma túy Heerroine, 02(hai) mảnh giấy màu trắng và 01 (một) phong bì thư niêm phong ban đầu.

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 867397050203894, số Imei 2: 867397050203886; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei 1: 355126100220775, số Imei 2: 355126100220783.

    (Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số 24NK124 ngày 02/8/2024).

  3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn Ú mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Diễn Ngọc;
  • - UBND xã Diễn Bích;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T19 (mười chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn u15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger