Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày 14 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Thanh Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thị Tuyết T (tên gọi khác là G), sinh năm 1991 tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh L và bà Nguyễn Thị Ngọc M; có chồng Nguyễn Văn K và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-6-2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phan Thanh S, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  2. Ông Phạm Minh C, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  3. Ông Trần Thanh S1, sinh năm 1989, nơi cư trú: tổ D, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Lưu Ngọc T1, Lâm Thị Trúc V, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 11-6-2024, tại căn nhà số C đường H, tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, Công an phường N phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố C kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ của Lê Thị Tuyết T (Gái) 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, T chuẩn bị bán cho Phan Thanh S với giá 80.000 đồng; tiếp tục kiểm tra thu giữ tại đầu giường trong phòng ngủ của T (Gái) 01 bọc nilon trong suốt hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, thu giữ trong túi quần sọt treo trong nhà vệ sinh 01 bọc nilon trong suốt hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng và nhiều đồ vật liên quan đến việc mua bán ma tuý, sử dụng ma tuý.

Vật chứng thu giữ: 02 bọc nilon trong suốt, chứa tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng hàn kín, chứa tinh thể màu trắng; 01 bọc nilon trong suốt, chứa chất bột màu trắng; 01 cây cân tiểu ly; 01 bật lửa màu xanh; 02 điện thoại di động các loại và nhiều vật dụng có liên quan.

Quá trình điều tra xác định: Lê Thị Tuyết T bắt đầu bán ma tuý từ tháng 4-2024 cho đến ngày bị bắt 11-6-2024, T mua ma tuý của người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) 02 lần, lần thứ nhất mua với giá 600.000 đồng, lần thứ hai mua với giá 900.000 đồng về phân nhỏ, bán cho Phạm Minh C 02 lần, với số tiền 450.000 đồng, bán cho Trần Thanh S1 02 lần, với số tiền 200.000 đồng. Ngày 11-6-2024, Phan Thanh S đến nhà hỏi mua 80.000 đồng ma tuý, T vừa lấy ma tuý bán cho S thì bị bắt quả tang, thu giữ ma tuý.

Tại Kết luận giám định số 792/KL-KTHS (MT-GT) ngày 16-6-2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận:

“Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,0065 gam.

Mẫu M4 gửi đến giám định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,1876 gam".

Tại Cáo trạng số: 102/CT-VKSCĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố Lê Thị Tuyết T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Thị Tuyết T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Bị cáo xác định ngày 11-6-2024 có bán ma túy cho Phan Thanh S và bị bắt quả tang; trước đó có bán ma túy cho Phạm Minh C 02 lần, cho Trần Thanh S1 02 lần; thu lợi bất chính là 400.000 đồng; xác định có sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 2021 để mua bán ma túy, còn điện thoại di động hiệu Vivo V2043 là của mẹ ruột mua cho con bị cáo sử dụng không liên quan đến việc mua bán ma túy có yêu cầu được nhận lại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phát bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ lượng ma tuý còn lại sau giám định, 01 chai nhựa có gắn nắp đậy màu đỏ, 01 cây cân tiểu ly, 01 bật lửa màu xanh; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 2021 và tiền Việt Nam 80.000 đồng; giao trả lại cho bị cáo Lê Thị Tuyết T 01 điện thoại di động hiệu Vivo V2043; buộc bị cáo giao nộp 400.000 đồng là tiền do phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình lo cho các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Lê Thị Tuyết T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 11-6-2024, tại căn nhà số C đường H, tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Lê Thị Tuyết T đã có hành vi cất giữ trái phép 03 bọc nilon trong suốt chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng; qua giám định xác định 02 bọc nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,0065gam; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khoá viền đỏ chứa tinh thể màu trắng là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,1876gam, với mục đích để sử dụng và nhiều lần bán cho các đối tượng nghiện như Phạm Minh C, Trần Thanh S1, Phan Thanh S để kiếm lời thì bị Công an phường N phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Công an thành phố C kiểm tra, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị Tuyết T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra nên cố gắng làm việc để tạo ra giá trị cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm thu lợi, cũng như muốn thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Ngoài ra, trong quá trình bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C bị cáo Lê Thị Tuyết T đã 03 lần bị kỷ luật vì đã vi phạm nội quy Nhà tạm giữ.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, xuất thân từ thành phần lao động nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh kinh tê khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và trong thời gian bị tạm giam bị cáo đã 03 lần xử lý kỷ luật. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, đây là loại vật nhà nước cấm lưu hành; nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme C11 2021 được bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo V2043, màu xanh là tài sản của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên giao trả lại cho bị cáo T.

Đối với 01 chai nhựa có gắn nắp đậy màu đỏ, 01 cây cân tiểu ly, 01 bật lửa màu xanh là vật có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với tiền Việt Nam 80.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và 400.000 đồng bị cáo khai có được từ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Phan Thanh S, Phạm Minh C, Trần Thanh S1 đã mua ma tuý do bị cáo T bán để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã chuyển xử lý hành chính là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đã bán ma tuý cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục xác minh, lãm rõ, xử lý sau là phù hợp

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tuyết T (tên gọi khác là G) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Lê Thị Tuyết T (tên gọi khác là G) 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11-6-2024).
  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm (vụ số 792/KL-KTHS ngày 16-6-2024) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C; 01 chai nhựa nắp đậy màu đỏ, gắn nỏ thủy tinh, đoạn ống hút nhựa màu đỏ; 01 cân tiểu ly; 01 bật lửa màu xanh.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 2021, màu đen; tiền Việt Nam 80.000 (tám chục ngàn) đồng.
    • - Giao trả lại cho bị cáo Lê Thị Tuyết T: 01 điện thoại di động hiệu Vivo V2043, màu xanh.
    • (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25-10-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang).
    • - Buộc bị cáo giao nộp 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) là tiền do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.
  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Điều Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Lê Thị Tuyết T (tên gọi khác là G) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Châu Đốc;
  • - Công an thành phố Châu Đốc;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Châu Đốc;
  • - Nhà tạm giữ - Công an thành phố Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Châu Đốc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS Lê Thị Tuyết Trinh - MBTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger