Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HS-ST

Ngày: 12 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Thanh Bình.

- Ông Dương Minh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Phương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 653/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

TRẦN TRUNG D; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1990. Nơi sinh: Cần Thơ. ĐKTT: 72/12/16A, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm Thuê. Họ và tên cha: Trần Văn H, sinh năm 1963 (chết). Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị L, sinh năm 1962. Anh, chị em ruột: Không. Vợ: Trần Thị Bảo T, sinh năm 1991. Con có 02 người, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ khẩn cấp ngày 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Huỳnh Thị Mỹ P, sinh năm 1966. Địa chỉ: 7 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng:

+ Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1962. Địa chỉ: G N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

+ Nguyễn Anh D1, sinh năm 2000. Địa chỉ: 2 Cách mạng tháng H, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 09/4/2024, bị cáo Trần Trung D đạp xe đạp qua khu vực Xóm C thuộc quận C, thành phố Cần Thơ gặp người đàn ông (không rõ họ, tên địa chỉ) mua gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đạp xe quay về đến trước nhà số C đường N, phường T, quận N thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ gói nilon được dán băng keo đen bên ngoài, bị cáo khai bên trong gói nilon là ma túy vừa mua mang về nhà để sử dụng.

Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nilon không màu, hàn kín có dán băng keo màu đen bên ngoài, bên trong có chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy) được dán vào thẻ giấy màu đen có chữ Hoàng N được thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của Trần Trung D đang mặc; 01 xe đạp màu hồng (bút lục: 31 - 33).

Tại Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 13/4/2024 của phòng K - Công an thành phố C kết luận: 01 gói nilon không màu, hàn kín chứa tinh thể không màu được dán vào thẻ giấy màu đen có chữ Hoàng Nguyên có dán băng keo màu đen, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2310 gam (bút lục: 15).

Khám xét chỗ ở của bị cáo tại địa chỉ số G đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, thu giữ: 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng, bên trong có chứa chất rắn màu nâu (nghi là ma túy) được thu giữ ở thân bình tự chế; 01 bình tự chế bằng nhựa dùng để sử dụng ma túy; 01 quẹt gas; 01 chai gas (thu giữ ngoài hành lang trên gác của Trần Trung D ở). (bút lục: 34 – 36).

Tại kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của phòng K- Công an thành phố C kết luận: 01 nỏ thủy tỉnh đã qua sử dụng, bên trong có chứa chất rắn màu nâu, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0938 gam. (bút lục: 16).

Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo: 0,3248 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Trung D khai nhận: ngày 09/4/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đã mua gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2310 gam trên đường về thì bị bắt nên chưa kịp sử dụng; riêng 0,0938 gam ma túy, loại Methamphetamine còn trong nỏ là của bị cáo sử dụng trước đó còn lại. Bị cáo đã mua ma túy của đối tượng nam ở khu vực Xóm C nhiều lần để sử dụng nhưng không biết tên và lai lịch cụ thể (bút lục: 45-55).

Đối với xe đạp màu hồng bị cáo sử dụng làm phương tiện mua ma túy là của bà Huỳnh Thị Mỹ P (là dì ruột của D), ngày 09/4/2024 D hỏi mượn đi mua trà sữa, bà P không biết D đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật trả lại tài sản trên cho bà P.

Bị cáo khai không biết rõ họ tên đối tượng bán ma túy cho bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Trung D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định. Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa.

Cáo trạng số 141/CT-VKSNK ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo: Trần Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như nội dung cáo trạng, tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại tòa thấy rằng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Bị cáo có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích nên xét thấy bị cáo có nhân thân xấu. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 tuyên bố bị cáo Trần Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị mức hình phạt cho bị cáo Trần Trung D mức án từ: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về vật chứng:

- Đối với gói niêm phong số 98/KL-KTHS ngày 13/4/2024 và gói niêm phong số 99/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K, Công an thành phố C đề nghị tịch thu tiêu hủy;

- 01 bình tự chế bằng nhựa dùng để sử dụng ma túy, 01 quẹt gas, 01 chai gas đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung D không tranh luận về tội danh và mức hình phạt, bị cáo nói lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, cũng như ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

-Về những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

[1] Về tội danh: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thể hiện: ngày 09/4/2024 bị cáo Trần Trung D đạp xe đạp qua khu vực Xóm C thuộc quận C, thành phố Cần Thơ gặp người đàn ông (không rõ họ, tên địa chỉ) mua gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đạp xe quay về đến trước nhà số C đường N, phường T, quận N thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ tang vật. Đồng thời khám xét chỗ ở của bị cáo tại địa chỉ số G đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, thu giữ: 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng, bên trong có chứa chất rắn màu nâu. Qua kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 13/4/2024 và số 99/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K-Công an thành phố C, kết luận: 01 gói nilon không màu, hàn kín chứa tinh thể không màu được dán vào thẻ giấy màu đen có chữ Hoàng Nguyên có dán băng keo màu đen, chất rắn màu nâu thu trong nỏ thủy tinh, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo 0,3248 gam nên đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 tình tiết này là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo. Về nhân thân: bị cáo có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng nay bị cáo lại phạm tội mới nên xác định bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thực hiện là đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội bởi vì tác hại của ma túy là rất nguy hiểm cho bản thân của chính bị cáo, ngoài ra bên cạnh ma túy còn nảy sinh thêm các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh xã hội. Nhà nước đã có nhiều chính sách tuyên truyền, cảnh tỉnh về các loại tội phạm ma túy và có chế tài rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này nhưng vì nghiện ma túy nên nhiều người vẫn cố tình phạm tội, trong đó có bị cáo.

Động cơ phạm tội của bị cáo là xem thường pháp luật, bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là lỗi cố ý trong ý thức phạm tội của bị cáo, thiết nghĩ cần phải có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như vừa nêu trên nhằm đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Từ những phân tích về tính chất, hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, thỏa đáng với toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về tang vật, vật chứng:

- Đối với gói niêm phong số 98/KL-KTHS ngày 13/4/2024 và gói niêm phong số 99/KL-KTHS ngày 16/4/2024 (kèm bên trong gói niêm phong có 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng) của Phòng K, Công an thành phố C cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 bình tự chế bằng nhựa dùng để sử dụng ma túy, 01 quẹt gas, 01 chai gas cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Bị cáo Trần Trung D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Trần Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Trần Trung D mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2024.

- Về tang vật, vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 98/KL-KTHS ngày 13/4/2024, 01 gói niêm phong số 99/KL-KTHS ngày 16/4/2024 (kèm bên trong gói niêm phong có 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng) của Phòng K, Công an thành phố C, 01 bình tự chế bằng nhựa dùng để sử dụng ma túy, 01 quẹt gas, 01 chai gas.

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326 ngày 26/12/2016 buộc bị cáo Trần Trung D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - NLQ;
  • - VKSNDQNK;
  • - VKSNDTPCT;
  • - TANDTPCT;
  • - Công an QNK;
  • - Chi cục THADSONK.;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐỖ THỊ DIỄM TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 121/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dũng phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger