|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2024/HS-ST
Ngày: 11/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long và ông Vũ Xuân Kiều.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Văn C, sinh ngày 14/10/1987, tại thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: số nhà A, đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đức T và bà: Nguyễn Thị T1; có vợ là: Nguyễn Thị H và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ đã chết);
- + Ngày 23/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- + Ngày 10/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Chuyển 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án ngày 23/8/2017 thành 01 năm tù. Tổng hợp hình phạt chung là 03 năm 03 tháng tù. Ngày 04/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 19/5/2020 đã chấp hành xong phần dân sự;
- Họ và tên: Trần Quang D, sinh ngày 26/7/1997, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ G, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở trước khi bị bắt: tổ B, khu E, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang V và bà: Nguyễn Thị Kim O; vợ, con: Chưa có; tiền sự: không; tiền án: Ngày 19/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. Ngày 21/10/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 04/6/2020 chấp hành xong phần dân sự.
- Họ và tên: Chu Văn A, sinh ngày 20/9/1992, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ E, khu G, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Tiến D1 và bà: Đàm Thị H1; có vợ là: Hà Thị Thu T2 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/11/2013, bị Công an phường B, thành phố H xử phạt 150.000 đồng về hành vi vi phạm trật tự công cộng (đã nộp phạt ngày 24/01/2014).
- Họ và tên: Tường Duy N, sinh ngày 06/10/1989, tại thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: số G, cổng chợ P1, đường Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở hiện tại trước khi bị bắt: ngõ B, đường Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tường Như B và bà: Nguyễn Thị X; có vợ là: Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 (đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 23/11/2010, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 năm tù, về tội “Cướp tài sản”. Ngày 30/8/2013 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 07/3/2011 chấp hành xong phần dân sự; Ngày 31/3/2017, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã nộp phạt ngày 18/4/2017).
- Tiền án:
- Tiền sự:
ngày 22/5/2023, bị Công an thành phố H xử phạt 6.500.000 đồng, về hành vi cố ý gây thương tích (đã nộp phạt ngày 01/10/2024).
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn C: Ông Vũ Mạnh K - Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q, địa chỉ: D- C M, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Hải N1, sinh năm 2005; nơi cư trú: tổ G, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Lương Cao Đ, sinh năm 1992, vắng mặt.
- Anh Đinh Việt B1; sinh năm 2001, vắng mặt.
- Anh Dương Quốc H2; sinh năm 2000, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc T4; sinh năm 2002, vắng mặt.
- Chị Y H3; sinh năm:1997 (dân tộc: Ba Na), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 07/4/2024, tại phòng trọ số A thuộc tổ B, khu E, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và Công an phường B, kiểm tra bắt quả tang Trần Quang D có hành vi tàng trữ 1,716 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để bán. Nguồn gốc số ma tuý trên, D khai đêm ngày 05 rạng sáng ngày 06/4/2024, D cùng Chu Văn A đi thành phố H mua của Phạm Văn C mục đích về bán lẻ kiếm lời.
Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn C, Tường Duy N về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong túi xách của Phạm Văn C: 02 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 02 túi nilon chứa 113 viên nén và 01 mảnh vỡ viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 18,555 gam; 08 viên nén màu xám và 01 mảnh vỡ viên màu xám, kết quả giám định là ma túy MDMA có tổng khối lượng 4,368 gam. Thu của Tường Duy N: T5 tại túi quần bên trái của N 02 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 06 viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 1,209 gam. (Kết luận giám định số 945 ngày 12/4/2024 và số 1025 ngày 04/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Q).
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị cáo, như sau:
1. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Văn C và Tường Duy N
Do không có việc làm thu nhập và có nhu cầu sử dụng ma túy, nên trong khoảng thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2024, Phạm Văn C tìm mua ma túy để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Cụ thể, các lần Chính mua bán ma tuý như sau:
- Khoảng tháng 3/2024, tại khu vực cầu T thuộc huyện H, tỉnh Thái Bình, C gặp và mua của người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) ma túy Methamphetamine giá 700.000 đồng/01 gam và ma túy hồng phiến giá 50.000 đồng/01 viên, do thời gian đã lâu nên C không nhớ khối lượng ma túy đã mua. Sau khi mua được số ma túy này, C đã sử dụng một phần; số còn lại, tại thành phố H, tỉnh Hưng Yên, C bán cho Trần Văn D2 03 lần tổng cộng 15 gam ma túy Methamphetamine và 04 viên ma túy hồng phiến, trong đó ngày 28/3/2024, 01/4/2024 bán 02 lần, mỗi lần 05 gam ma túy Methamphetamine giá 4.000.000 đồng và rạng sáng ngày 06/4/2024 bán 05 gam Methamphetamine giá 4.000.000 đồng và 4 viên hồng phiến giá 1.000.000 đồng (lần này có Chu Văn A đi cùng D2). Dự thanh toán bằng cách chuyển khoản từ số tài khoản số [...] của Dự đến số tài khoản số 0938012349 của C, đều mở tại Ngân hàng TMCP Q.
- Tối ngày 20/6/2024, tại thị trấn H, huyện D, tỉnh Hà Nam, C tiếp tục mua của người đàn ông tên H4 (không rõ lai lịch địa chỉ) 190 viên ma túy hồng phiến giá 10.000.000 đồng; 10 viên thuốc lắc giá 2.500.000 đồng và 10 gam ma túy Methamphetamine giá 10.000.000 đồng. Số ma túy này, C sử dụng các ống hút nhựa được cắt vát một đầu và cân điện tử chia nhỏ để bán lẻ giá từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/01 túi Methamphetamine; 80.000 đồng đến 100.000 đồng/01 viên hồng phiến; 350.000 đồng/01 viên thuốc lắc. C đã sử dụng 1,5 viên thuốc lắc, một phần ma túy hồng phiến và ma túy Methamphetamine, số ma túy còn lại C mang theo người và bán cho nhiều người không rõ lai lịch địa chỉ tại thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Phạm Văn C và Tường Duy N là bạn bè xã hội, cùng là người sử dụng ma túy nên C thỏa thuận đưa ma túy cho N mang đi bán trà công bằng cách cho ma túy. Tối ngày 25/6/2024, tại khu vực ngõ A đường A, phường H, thành phố H, C đưa cho N 01 nilon túi chứa 0,477 gam Methamphetamine để bán giá 500.000 đồng, 01 túi chứa 06 viên hồng phiến (0,618 gam Methamphetamine) để bán giá 100.000 đồng/01 viên và trả công bán ma tuý là 01 túi nilon chứa 0,2 gam Methamphetamine, 01 viên ma túy hồng phiến. N sử dụng 01 viên hồng phiến và một phần Methaphetamine trong túi nilon C trả công nên còn lại 0,114 gam Methamphetamine, Ngọc định bán giá 300.000 đồng. Do chưa bán được ma túy, nên tối ngày 26/6/2024, N mang toàn bộ số ma túy còn lại là 1,209 gam Methamphetamine đến phòng trọ số 07 mục đích trả lại cho C thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện thu giữ.
Ngày 26/6/2024, C đến cửa hàng quần áo của anh Nguyễn Ngọc T4 ở thôn C, phường L, thành phố H để chơi cùng bạn bè thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ số ma túy còn lại gồm 18,555 gam Methamphetamine và 4,368 gam MDMA cất giấu trong túi xách Chính luôn mang theo bên người.
Như vậy, Phạm Văn C có hành vi 03 lần bán trái phép cho Trần Quang D 15 gam ma túy Methamphetamine và 04 viên hồng phiến; tàng trữ trái phép 19,764 gam Methamphetamine và 4,368 gam MDMA mục đích để bán. Tường Duy N giúp sức cho C tàng trữ trái phép để bán 1,209 gam Methamphetamine.
2. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Quang D và Chu Văn A
Sau hai lần mua được 10 gam ma túy Methamphetamine của Phạm Văn C. Trần Quang D đã sử dụng 04 gam, bán lẻ 06 gam cho nhiều người không quen trên địa bàn phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trong đó bán cho Chu Văn A và Lương Cao Đ mỗi người 01 túi nilon chứa 0,2 gam giá 500.000 đồng vào thời gian đầu tháng 4/2024 (A chưa trả tiền, còn Đ trả tiền mặt).
Khi đã sử dụng và bán hết số ma túy trên, đêm ngày 05/4/2024, D gọi điện Zalo cho C tiếp tục đặt mua 10 gam ma túy Methamphetamine, cả 2 thống nhất giao dịch tại khu vực Q, thành phố H. Do không có phương tiện đi mua ma túy nên D rủ Chu Văn A (là bạn nhà ở cùng phường V) đi mua ma túy cùng, A mượn xe mô tô nhăn hiệu Exciter biển kiểm soát 14U1-350.11 của anh Đinh Việt B1 chở D đi thành phố H. Khi đến nơi, D vào khách sạn B2 thuộc phường A, thành phố H gần đó thuê Phòng 553 (tầng 5) rồi báo cho C biết. Khoảng hơn 03 giờ sáng ngày 06/4/2024, C đem theo 01 túi da màu đen vào phòng mờ lấy ra túi nilon chứa ma túy đá và cân điện tử, cân bán cho D 05 gam Methamphetamine (do Dự không đủ tiền mua 10 gam) và 04 viên ma túy hồng phiến. Số ma túy này, khi về phòng trọ của mình ở tổ B, khu E, phường B, thành phố H, D cho A 0,5 gam Methamphetamine, sử dụng 0,5 gam Methamphetamine và 04 viên hồng phiến. Phần còn lại 04 gam Methamphetamine, Dự chia nhỏ vào các ống hút nhựa bán cho nhiều người không quen trên địa bàn phường B, thành phố H với tổng khối lượng 2,284 gam trong đó chiều ngày 07/4/2024 bán cho Lương Cao Đ 0,15 gam giá 300.000 đồng, thanh toán tiền mặt. Còn lại 1,716 gam Methamphetamine, Dự cất giấu trong người chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, Trần Quang D đã nhiều lần bán trái phép cho nhiều người tổng cộng 8,284 gam Methamphetamine trong đó có Chu Văn A và Lương Cao Đ; tàng trữ trái phép mục đích để bán 1,716 gam Methamphetamine. Chu Văn A giúp sức cho D mua 04 gam Methamphetamine đê bán trái phép.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn C, Trần Quang D, Chu Văn A và Tường Duy N khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Hài N1 có lời khai: chiếc điện thoại OPPO màu xanh kèm sim và số tiền 2.950.000đồng mà bị cáo Dự bị thu giữ khi bị bắt là của anh, vào ngày 07/4/2024 anh có đưa điện thoại OPPO và tiền cho D (là anh trai anh) nhờ đi sửa hộ anh chiếc điện thoại OPPO trên, nay anh đề nghị trả lại cho anh chiếc điện thoại OPPO và số tiền thu giữ khi bắt bị cáo D.
Những người làm chứng: Anh Lương Cao Đ, anh Đinh Việt B1, anh Dương Quốc H2, anh Nguyễn Ngọc T4 và chị Y HYANG, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo về nội dung vụ án. Anh Đinh Việt B1 khai: khi cho Chu Văn A mượn xe mô tô không biết A sử dụng chở Trần Quang D đi mua ma túy và không tham gia vào việc mua bán của D và A.
Tại Cáo trạng số 5200/CT- VKSQN-P1 ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố: Phạm Văn C, Trần Quang D, Chu Văn A, Tường Duy N, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong đó Chính phạm tội theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251; Dự phạm tội theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251; A và N phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo: Phạm Văn C, Trần Quang D, Chu Văn A, Tường Duy N, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn C từ 16 năm đến 17 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 27/6/2024.
- - Điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Quang D từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 07/4/2024.
- - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Chu Văn A từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 08/4/2024.
- - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Tường Duy N từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 27/6/2024.
Về vật chứng:
- - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: số ma tuý còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 945/KL-KTHS và phong bì niêm phong số 1025/KL-KTHS; 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo chống nắng màu đen có mũ chùm đầu, 01 túi xách có chữ NIKE màu tím xanh, 01 túi đeo chéo hình chữ nhật bên ngoài họa tiết hình caro, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 cân điện tử màu xám, 01 hộp kim loại hình bầu dục, 11 vỏ túi nilon, 01 đoạn ống hút màu đen cắt vát một đầu thu giữ Chính; 03 vỏ túi nilon tạm thu giữ N; và 06 sim điện thoại.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Redmi màu vàng thu giữ của bị cáo D; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu đen bạc thu giữ của bị cáo A; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12Pro Max màu vàng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Mobell màu đỏ, thu giữ của bị cáo C; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xperia màu hồng thu giữ của bị cáo N.
- - Trả lại cho anh Trần Hải N1: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh kèm 01 sim và số tiền 2.950.000 đồng.
- - Đề nghị truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà có của các bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.
- - Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 phòng bì bên trong có chứa 14 đĩa DVD ghi hình lời khai của các bị cáo và 01 niêm phong trong có USB lưu trữ ghi hình ngày 06/4/2024.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo C: đồng tình với Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tội danh, điều khoản đã truy tố, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C, bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, có ông nội là người có công với Nhà nước; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa bị cáo C đồng tình quan điểm của Luật sư, không có ý kiến bổ sung, không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bàn luận tội của Kiểm sát viên; các bị cáo còn lại không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn C, Trần Quang D, Chu Văn A, Tường Duy N khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản giữ người trong trong hợp khẩn cấp, phù hợp với Kết luận giám định số 945 ngày 12/4/2024, số 1025 ngày 04/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Q và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
- - Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6/2024, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn C đã có hành vi bán 03 lần trái phép 15 gam Methamphetamine và 04 viên hồng phiến cho Trần Quang D; tàng trữ trái phép 24,132 gam Methamphetamine, MDMA mục đích để bán thì bị Cơ quan điều tra thu giữ. Tổng khối lượng C đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 39,132 gam Methamphetamine, MDMA và 04 viên hồng phiến.
- Tường Duy N giúp sức cho Phạm Văn C tàng trữ trái phép 1,209 gam Methamphetamine mục đích để bán.
- - Trong thời gian tháng 4/2024, trên địa bàn phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Quang D đã có hành vi bán trái phép cho nhiều người tổng cộng 8,284 gam Methamphetamine, trong đó 01 lần bán cho Chu Văn A và 02 lần bán cho Lương Cao Đ tổng cộng 0,55 gam; tàng trữ trái phép 1,716 gam Methamphetamine mục đích để bán bị Cơ quan điều tra bắt quả tang, thu vật chứng. Tổng khối lượng D đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 10 gam Methamphetamine.
- Chu Văn A giúp sức cho Trần Quang D mua ma túy trái phép về bán 4 gam Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn Chính P vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Trần Quang D phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình; hành vi của Tường Duy N và Chu Văn A phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình, sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo biết rõ việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vẫn cố tình vi phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đã gây ra. Do đó cần tuyên cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.
Bị cáo C là người chuẩn bị ma túy, trực tiếp đi bán ma tuý và thuê N đi bán ma túy cho mình nên C giữ vai trò đầu; bị cáo D mua ma tuý của C nhiều lần về vừa sử dụng và vừa bán lại cho nhiều người nên giữ vai trò thứ hai; bị cáo A giúp sức cho bị cáo D đi mua 04 gam Methamphetamine ma tuý về mục đích bán nên giữ vai trò thứ ba; bị cáo N giúp sức cho bị cáo C trong việc bán 1,209 gam Methamphetamine nên giữ vai trò cuối.
[5] Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân xấu, đều là những đối tượng nghiện ma tuý.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn C “phạm tội 02 lần trở lên” và phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, nên bị cáo C phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Quang D có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C có ông nội là người có công với Nhà nước (được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất), bị cáo D có bà ngoại là người có công với Nhà nước (được tăng Huân chương kháng chiến hạng 3), nên 02 bị cáo này được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.
[7] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: số ma tuý còn lại sau khi giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 495/KL-KTHS và phong bì niêm phong số 1025/KL-KTHS, là vật Nhà nước cấm; 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo chống nắng màu đen có mũ chùm đầu, 01 túi xách màu tím xanh có chữ NIKE, 01 túi đeo chéo hình chữ nhật bên ngoài có họa tiết hình caro, 01 hộp kim loại hình bầu dục, 20 vỏ túi nilon, 02 đoạn ống hút màu đen dài 10,5cm, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cân điện tử màu xám thu giữ của C; 03 vỏ túi nilon thu giữ của N; và 06 sim điện thoại thu giữ của các bị cáo, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Redmi vỏ màu vàng đen thu giữ của bị cáo D; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone mặt lưng màu bạc, mặt trước màu đen thu giữ của bị cáo A; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone12 Pro Max) vỏ màu vàng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Mobell màu đỏ kèm thu giữ của bị cáo C; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xperia vỏ màu hồng thu giữ của bị cáo N, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với: số tiền 2.950.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh + 01 sim thu giữ của bị cáo D. Quá trình điều tra xác định là của Trần Hải N1 (em trai bị cáo D) đưa cho D nhờ Dự mang điện thoại OPPO đi sửa hộ, do đó cần trả lại cho anh Trần Hải N1 số tiền 2.950.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO trên.
- - Đối với 01 phong bì bên trong có chứa 14 đĩa DVD ghi hình lời khai của các bị cáo và 01 niêm phong trong có USB lưu trữ ghi hình ngày 06/4/2024. Đây là dữ liệu điện từ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[9] Biện pháp tư pháp: bị cáo C bán ma tuý cho nhiều người, trong đó bán ma tuý cho Dự thu được 13.000.000 đồng; bị cáo D bán ma tuý cho nhiều người, trong đó xác định bán ma tuý cho Đ thu được 800.000 đồng, bán cho A thu được 500.000 đồng. Xét thấy đây là tiền do phạm tội mà có, cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể, cần buộc bị cáo C phải nộp 13.000.000 đồng; buộc bị cáo D phải nộp 1.300.000 đồng.
[10] Nội dung khác:
- - Đối với những người bán ma túy cho Phạm Văn C do không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra làm rõ; Đinh Việt B1 cho Chu Văn A mượn xe mô tô chở Trần Quang D đi mua ma túy không biết và không tham gia vào việc mua bán nên không phạm tội. Số ma tuý C khai đã bán cho những người không quen biết, ngoài lời khai của C không có tài liệu chứng cứ khác, nên không đủ căn cứ quy kết.
- - Đối với Lương Cao Đ có hành vi mua ma túy của Trần Quang D về sử dụng, kết quả xét nghiệm trong mẫu nước tiểu dương tính với chất ma túy Methamphetamine, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- - Đối với số ma tuý mà bị cáo D cho bị cáo A để A sử dụng, theo lời khai của D là 0,5gam Methamphetamine, nhưng không có tài liệu chứng cứ xác định chính xác số ma tuý Dự cho A là 0,5gam Methamphetamine, nên không đủ căn cứ xử lý A về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[11] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo C phù hợp với nội dung vụ án nên được chấp nhận.
[12] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: các bị cáo: Phạm Văn C, Trần Quang D, Chu Văn A, Tường Duy N phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ: điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 27/6/2024.
- Căn cứ: điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Quang D 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 07/4/2024.
- Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Chu Văn A 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 08/4/2024.
- Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tường Duy N 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 27/6/2024.
- Về vật chứng: áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: số ma tuý còn lại sau khi giám định được đựng trong 02 phong bì niêm phong số 495/KL-KTHS và số 1025/KL-KTHS; 01 mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo chống nắng màu đen có mũ chùm đầu, 01 túi xách màu tím xanh có chữ NIKE, 01 túi đeo chéo hình chữ nhật bên ngoài có họa tiết hình caro, 01 hộp kim loại hình bầu dục, 20 vỏ túi nilon, 02 đoạn ống hút màu đen dài 10,5cm, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cân điện tử màu xám thu giữ của C; 03 vỏ túi nilon thu giữ của N; và 06 sim điện thoại.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Redmi vỏ màu vàng đen thu giữ của bị cáo D; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone mặt lưng màu bạc, mặt trước màu đen thu giữ của bị cáo A; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone (kiêu dáng Iphone12 Pro Max) vỏ màu vàng, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Mobell màu đỏ kèm thu giữ của bị cáo C; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xperia vỏ màu hồng thu giữ của bị cáo N.
- + Trả lại cho anh Trần Hải N1 số tiền 2.950.000 đồng (hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh + 01 sim.
- + Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 phong bì trong có 14 đĩa DVD ghi hình lời khai của các bị cáo và 01 niêm phong trong có USB lưu trữ ghi hình ngày 06/4/2024.
(Tình trạng như Biên bản giao vật chứng số 06 ngày 14/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Tình trạng số tiền trên được niêm phong nhập kho gói gửi số 1455 tại Kho bạc Nhà nước Q1 theo Phiếu nhập kho ngày 28/5/2024, Biên bản giao nhận tài sản số 84/BBBG-CQCSĐTCATPHL ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an T với Kho bạc Nhà nước Q1).
- Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể buộc bị cáo C phải nộp 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng); bị cáo D phải nộp 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng).
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Văn C, Trần Quang D, Chu Văn A, Tường Duy N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Duy Hải |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Chính cđp phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
