|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng, ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Đình T, sinh năm: 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Pháp. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện va lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 09/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã X), huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng gia đình chồng. Đến năm 2015 thì anh T đi xuất khẩu lao động. Đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa cách, không có sự tin tưởng và điều kiện chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm phai nhạt. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị D làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Bùi Đình T.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Bùi Đình T1, sinh ngày 19/4/2018. Khi ly hôn, chị D có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị D đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do bận công việc.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Bùi Đình T thông qua cuộc gọi video có hình ảnh với tài khoản Facebook của anh T là “Paul Bui” (do bà Bùi Thị K là mẹ đẻ của anh T cung cấp thông tin) tại nhà của anh Bùi Đình T với sự chứng kiến của đại diện Chính quyền địa phương. Bị đơn anh Bùi Đình T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Đình Thông thống N về nội dung trình bày của chị Nguyễn Thị D về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Anh Thông đồng Ý với yêu cầu xin ly hôn của chị D, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T và chị D được ly hôn.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Bùi Đình T1, sinh ngày 19/4/2018. Khi ly hôn, anh T đồng ý để Tòa án giao cả hai con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng do vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay anh T không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ tại Pháp nên anh T xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Bùi Thị K thay anh thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án. Quá trình làm việc, bà Bùi Thị K đồng ý chấp nhận việc ủy quyền giao nhận tại liệu, văn bản của anh Bùi Đình T, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án để anh T được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 143, Điều 147, Điều 464, Điều 469 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Bùi Đình T1, sinh ngày 19/4/2018 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Anh Bùi Đình T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị D, anh Bùi Đình T mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T đăng ký kết hôn ngày 09/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã X), huyện H, tỉnh Nghệ An. Nay chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Đình T. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 658/PA08-Đ1 ngày 11/7/2024 của Phòng PA08 – Công an tỉnh H, xác nhận: Anh Bùi Đình T, sinh ngày 28/6/1986 đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 18/7/2015, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Đình T hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Pháp, không cung cấp được địa chỉ và thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ. Do điều kiện công việc nên anh T xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị D, anh T theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã X), huyện H, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị D và anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng gia đình chồng. Đến năm 2015 thì anh T đi xuất khẩu lao động. Đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa cách, không có sự tin tưởng và điều kiện chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm phai nhạt. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị D làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Bùi Đình T. Anh Bùi Đình Thông thống N về nội dung trình bày của chi Nguyễn Thị D về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị D xin ly hôn thì anh T cũng đồng ý.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; chị D và anh T đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Bùi Đình T1, sinh ngày 19/4/2018. Cả chị D và anh T đều thống nhất giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Bản thân cháu Bùi Nguyễn Phương U cũng có đơn trình bày nguyện vọng với nội dung: nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ. Xét thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng và ý kiến của cháu U là tự nguyện nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này cũng như ý kiến của cháu U. Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, giao 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Bùi Đình T1, sinh ngày 19/4/2018 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật và sự thỏa thuận, ý kiến của các bên.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị D, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị D, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Điều 10; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T.
-
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 17/8/2014 và cháu Bùi Đình T1, sinh ngày 19/4/2018 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Anh Bùi Đình T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D và anh Bùi Đình T mỗi người phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị D được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000009 ngày 08/7/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh, nay trả lại cho chị D số tiền 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Văn Hồng Nguyễn Tất Thể |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |
Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
