Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-PT

Ngày 19/9/2024

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.

Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

Bà Đặng Thị Bích Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 “Tranh chấp về ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4362/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13148/2024/QĐ-PT ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Tiến Lợi, sinh năm 1976;

Hộ khẩu thường trú: Căn hộ số 8.08 khu căn hộ Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3 Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: Nhà số 3 Đường 13, khu dân cư Nine South, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Vũ Đức Trường Luật sư công ty Luật TNHH MTV HTVN thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Bà Trần Thị Xuân Phượng, sinh năm 1976

Hộ khẩu thường trú: Căn hộ số 8.08 khu căn hộ Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn ly hôn đề ngày 16/10/2023, bản tự khai và các biên bản hòa giải không tiến hành hòa giải được nguyên đơn ông Phan Tiến Lợi trình bày:

Ông và bà Trần Thị Xuân Phượng tự nguyện kết hôn vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105 do Ủy ban nhân dân Phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ cấp ngày 12/8/2003.

Trong thời gian chung sống có 02 con chung là Phan Trần Bảo Thơ sinh ngày 27/10/2007 và Phan Trần Minh Thy sinh ngày 14/09/2009.

Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Mặc dù hai bên đã cố gắng giải quyết bất đồng nhưng đều không mang đến kết quả. Sau thời gian dài sống ly thân, ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không thể hàn gắn và chung sống hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông nộp yêu cầu được ly hôn với bà Phượng.

- Về con chung: Có 02 con chung là Phan Trần Bảo Thơ sinh ngày 27/10/2007 và Phan Trần Minh Thy sinh ngày 14/09/2009. Hiện nay hai con vẫn đang sinh sống cùng với bà Phượng ổn định. Nhưng theo nguyện vọng của hai con được tiếp tục sống với mẹ nên ông đồng ý giao 02 con cho bà Trần Thị Xuân Phượng trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thị Xuân Phượng mặc dù đã được Tòa án tổng đạt triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 3 quyết định:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4, Điều 147; khoản 1 và khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 266; Khoản 1, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 19, Khoản 1, Điều 51; Khoản 1, Điều 53; Điều 56; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn ông Phan Tiến Lợi:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Tiến Lợi được ly hôn với bà Trần Thị Xuân Phượng.

- Về con chung: Giao 02 con chung là Phan Trần Bảo Thơ sinh ngày 27/10/2007, Phan Trần Minh Thy sinh ngày 14/09/2009 cho bà Trần Thị Xuân Phượng trực tiếp giữ nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Phan Tiến Lợi có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng)/tháng (cụ thể: cấp dưỡng nuôi con Phan Trần Bảo Thơ số tiền 20.000.000 đồng/tháng; cấp dưỡng nuôi con Phan Trần Minh Thy số tiền 20.000.000 đồng/tháng). Việc cấp dưỡng thực hiện vào ngày 05 hàng tháng, bắt đầu ngày 05/5/2024 cho đến khi hai con thành niên.

(Trường hợp ngày cấp dưỡng trùng vào ngày nghỉ, ngày Lễ thì ngày cấp dưỡng là ngày làm việc tiếp theo).

Ông Phan Tiến Lợi được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bà Trần Thị Xuân Phượng có đơn yêu cầu xin thi hành án, nếu ông Phan Tiến Lợi chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nêu trên thì hàng tháng ông Lợi còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thực hiện.

- Về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 07/5/2024 bị đơn bà Trần Thị Xuân Phượng kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Tiến Lợi trình bày:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án sơ thẩm đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn - bà Phượng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

Về quan hệ hôn nhân:

Bị đơn – bà Phượng không đến tòa là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Hôn nhân giữa ông Lợi và bà Phượng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, bà Phượng không đến tòa để hòa giải. Ông Lợi có quyền ly hôn theo quy định tại Điều 51 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa án nhân dân Quận 3 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lợi là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Tòa án sơ thẩm đã lấy ý kiến, nguyện vọng của 02 con, giao 02 con cho bà Phượng trực tiếp nuôi. Ông Lợi tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi con 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/tháng thể hiện trách nhiệm của người làm cha.

Về tài sản chung, nợ chung: Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 72, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Trường hợp bà Phượng có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Do đó, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lợi, không chấp nhận kháng cáo của bà Phượng.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Phượng trong thời hạn luật định.

Về nội dung: Tòa án sơ thẩm đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bà Phượng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Phượng đều vắng mặt. Bà Phượng gửi đơn yêu cầu Tòa án xem xét nhưng không trực tiếp đến Tòa án cũng như tham gia phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường Võ Thị Sáu Quận 3 thể hiện bà Phượng cùng 02 con đang cư trú tại căn hộ Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lợi cư trú tại Nhà số 3 Đường 13, khu dân cư Nine South, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo nguyên đơn trình bày thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn. Ông Lợi khởi kiện yêu cầu ly hôn không thuộc trường hợp người chồng không có quyền ly hôn. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lợi là có căn cứ theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về việc nuôi con: Ông Lợi và bà Phượng có 02 con Phan Trần Bảo Thơ sinh ngày 27/10/2007 và Phan Trần Minh Thy sinh ngày 14/09/2009. Căn cứ nguyện vọng của 02 con muốn ở với bà Phượng nên Tòa án sơ thẩm giao 02 con cho bà Phượng trực tiếp nuôi là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – bà Phượng. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Xuân Phượng làm trong thời hạn quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án phúc thẩm đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các đương sự vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về kháng cáo của bà Phượng.

[2.1] Nội dung kháng cáo về thủ tục tố tụng: Tòa án sơ thẩm đã tiến hành tố tụng giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2] Nội dung kháng cáo về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 105 do Ủy ban nhân dân Phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ cấp ngày 12/8/2003 thì hôn nhân giữa ông Lợi và bà Phượng là hợp pháp.

Nguyên đơn ông Lợi khai mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng do khác biệt về tính cách, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2017. Bà Phượng ở tại Căn hộ số 8.08 khu căn hộ Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lợi ở tại Nhà số 3 Đường 13, khu dân cư Nine South, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn bà Trần Thị Xuân Phượng khai vợ chồng vẫn chung sống bình thường, cùng nuôi dưỡng, giáo dục 02 con, vợ chồng không có mâu thuẫn như ông Lợi trình bày. Về chỗ ở vợ chồng có 02 căn nhà: căn hộ số 8.08 Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và Nhà số 3 Đường 13, khu dân cư Nine South, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Do ông Lợi làm việc tại Bình Chánh nên ông Lợi ở nhà số 3 Đường 13, khu dân cư Nine South, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh để thuận tiện đi làm; bà Phượng làm việc tại Quận 3 nên bà Phượng và 02 con ở tại căn hộ 8.08 Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào cuối tuần, vợ chồng và các con vẫn sum họp gia đình bình thường.

Theo kết quả xác minh ngày 04/01/2023 của Công an phường Võ Thị Sáu Quận 3 thì ông Phan Tiến Lợi và bà Trần Thị Xuân Phượng có hộ khẩu thường trú tại Căn hộ số 8.08 khu căn hộ Sài Gòn Pavillon, số 53-55 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, tại thời điểm xác minh thì ông Lợi thực tế cư trú tại Nhà số 3 Đường 13, khu dân cư Nine South, đường Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường và Công an Phường Võ Thị Sáu Quận 3 thì chính quyền địa phương không có thông tin, ghi nhận gì về mâu thuẫn của vợ chồng ông Lợi, bà Phượng.

Ngoài ra từ năm 2022 đến ngày 03/5/2024 bà Trần Thị Xuân Phượng đang điều trị bệnh cao huyết áp, rối loạn lipid máu, Block nhĩ thất cao độ có ngất đã phẫu thuật để đặt máy tạo nhịp tim bị block đột ngột, rối loạn lipid máu. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

Ngoài lời khai ông Lợi không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Do đó để tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn, thực hiện nghĩa vụ vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nuôi dưỡng, giáo dục con, xây dựng gia đình hạnh phúc nên chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phượng, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lợi.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Trần Thị Xuân Phượng không phải chịu án phí phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Sửa bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tiến Lợi: Yêu cầu ly hôn bà Trần Thị Xuân Phượng.
  2. Về án phí
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Tiến Lợi phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nhìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0002103 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phan Tiến Lợi đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Xuân Phượng không phải chịu. Hoàn trả cho bà Trần Thị Xuân Phượng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021160 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án ; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND, VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKS, TA, THA Quận 3
  • - UBND Phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (T/25)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HNGĐ-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 121/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hônly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger